Chương 9
Chương trình Việt hóa chiến tranh

ì sự liên hệ quá sâu xa của Hoa Kỳ nên kể từ 1968, chiến tranh Việt Nam
đã trở thành đề tài chính trong các cuộc vận động tranh cử Tổng thống
Hoa Kỳ.
Việc các ứng cử viên Tổng thống Hoa Kỳ triệt để khai thác chiến tranh
để vận động tranh cử là một hiện tượng hết sức tự nhiên, vì người Mỹ
diều hâu hay người Mỹ bồ câu thì tựu trung vẫn không muốn thấy con em họ
phải xa lìa quê hương, phải uổng mạng trong một cuộc chiến mà theo ý họ
dân bản xứ giết nhau với dân bản xứ cũng đã đủ bảo vệ quyền lợi Hiệp
Chủng Quốc rồi.
Như vậy, chấm dứt chiến tranh tại một nơi xa xôi ngoài lãnh thổ Hiệp
Chủng Quốc mà các ứng cử viên Tổng thống Hoa Kỳ cam kết trong khi vận
động chỉ có nghĩa là làm thế nào để máu thanh niên Mỹ không phải trực
tiếp đổ ra, để công dân Hoa Kỳ không bị bắt làm tù binh, và quyền lợi
Hoa Kỳ tại nơi đó vẫn được duy trì bảo đảm.
Trong chiều hướng đó, khi ra tranh cử Tổng thống hồi tháng 11 năm 1968,
ứng cử viên đảng Cộng hòa Richard Nixon đã nêu lên chủ thuyết Nixon với
Chương trình Việt hoá. Chương trình này nhằm rút hơn nửaa triệu quân Mỹ
ra khỏi Nam Việt Nam, chấm dứt việc tác chiến trên bộ của quân đội Mỹ,
vì tác chiến trên bộ rất nguy hiểm đối với binh sĩ Mỹ, chỉ giữ lại vai
trò cố vấn và yểm trợ bằng Không-Hải lực mà thôi.
Chương trình Việt hóa chiến tranh của Tổng thống, Nixon đã gây nhiều
luồng dư luận sôi nổi trong 4 năm qua. Những người Việt Nam chất phác
thì hiểu đơn sơ rằng Việt hóa có nghĩa là Hoa Kỳ rút hết quân, chỉ để
lại một số cố vấn giống như tình trạng trước 1964. Một số khác, cách đây
hai năm, đã tỏ ra lo lăng hoang mang trước các đợt rút quân của Hoa Kỳ,
vì tưởng rằng miền Nam tự do chỉ có thể tồn tại với sự hiện diện của
hơn nửa triệu quân Mỹ; này bếu số quân đó rút đi, chắc Cộng sản Bắc Việt
sẽ tràn đến.
Đến nay, thực tế cho thấy Việt hóa chiến tranh không bao giờ có nghĩa
Hoa Kỳ sẽ phủi tay, vĩnh viến bỏ bê tất cả mọi quyền lợi tại Việt Nam,
hay để mặc cho Cộng sản muốn làm gì thì làm trên phần đất được coi như
pháo đài quan trọng nhất của Hoa Kỳ trong khu vực Đông Nam Á.
Muốn hiểu ý nghĩa đích thực của chương trình Việt hóa thì phải phân
tích Chủ thuyết Nixon, tức là đường lối đối ngoại mới của Hoa Kỳ đối với
toàn thế giới nói chung, và đặc biệt đối với Đông Á cũng nhưThái Bình
Dương nói riêng, vì chương trình Việt hóa là một phần trong toàn bộ
chính sách đó.
Như chúng ta đã biết, chiến tranh Việt Nam không thuần tuý là một cuộc
tranh chấp cục bộ giữa những người Việt theo chủ nghĩa Cộng sản và những
người Việt theo chủ nghĩa Quốc gia. Bề ngoài, cuộc chiến đó tuy có vẻ
bị đóng khung nhỏ hẹp trong phạm vi của một quốc gia, nhưng thực tế bên
trong, nó lại có sự liên hệ sâu xa với các siêu cường, vì là chỗ khởi
điểm cho sự tranh chấp giữa các hệ thống: Cộng sản với Tự do, Cộng sản
với Cộng sản, đế quốc với đế quốc, Kinh tế tư bản với kinh tế vô sản
v.v... thành thử nó làm rúng động cả thế gioi; và trở nên một bộ phận
chính yếu trong việc châm ngòi lửa chiến tranh khắp toàn vùng Đông Nam
Á.
Sự liên hệ nêu trên là do tình hình thế giới biến chuyển qua mau lẹ tạo
thành, và trước những biến chuyển đó, dù muốn hay không, phe tư bản -
dẫn đàu là Hoa Kỳ - bắt buộc phải thay đổi chính sách, nếu không sẽ phải
hứng chịu phần thiệt.
Tại khu vực Đông Nam Á, cách đây 15, 20 năm, còn bị đế quốc tư sản
Âu-Mỹ coi là vùng lạc hậu chậm tiến, kém văn minh, thiếu khai hóa và lúc
bằng, dù Cộng sản đã thôn tính trọn Hoa Lục, nhưng chưa phải là một
địch thủ đáng sợ của Hoa Kỳ.
Ngày nay, tất cả các dân tộc châu Á đều vươn mình lên, đều trưởng thành
trong những điều kiện mà người Âu - Mỹ không ngờ, đặc biệt sự lớn mạnh
của Trung Cộng đã trở thành mối đe dọa thường xuyên đối với Hiệp Chủng
Quốc Hoa Kỳ chẳng những trong phạm vi quân sự, mà còn cả trong phạm vi
kinh tế.
Khách quan mà nhận xét, dân số Trung Cộng đông gấp 5 lần dân số Hoa Kỳ
và ngày nay đã chế tạo được bom nguyên tử lẫn hỏa tiễn liên châu lục
mang đầu đạn nguyên tử, thì phải là một đối thủ đủ sức đương đầu với Hoa
Kỳ về mặt quân sự.
Tuy nhiên, về mặt kinh tế, việc hàng hóa Trung Cộng càng ngày càng tràn
ngập thị trường châu Á là mối quan tâm lớn lao của tư bản Hoa Kỳ, và cứ
theo đà phát triển đều đều - không cần bước tiến nhảy vọt - thì chỉ
trong vòng vài chục năm nữa, có thể đi đến chỗ Trung Cộng làm chủ thị
trường khu vực này, đến cả tư bản Nhật cũng không thể đương đầu nổi.
Cần nhận định rằng hệ thống phát triển kinh tế giữa Mỹ và Trung Cộng
hoàn toàn trái ngược nhau. Một đằng, Hoa Kỳ chuyên về kỹ nghệ nặng và kỹ
nghệ quốc phòng (tức chế tạo những thứ gây chiến trannh như súng ống,
đạn dược, máy bay, tầu chiến, quân trang quân cu v.v...), còn một đằng
thì Trung Cộng chuyên về kỹ nghệ nhẹ và sản xuất những thứ hàng hóa
thích hợp với người châu Á.
Giữa hai hệ thống kinh tế tư bản và vô sản đó, người ta thấy có một sự
va chạm mạnh mẽ lúc đầu, nhưng càng ngày chúng lại biến chứng, đi đến
chỗ cần phải kết hơhp với nhau để bổ túc cho nhau, vì nếu riêng rẽ, cả
hai đều bị tê liệt.
Vô sản đối kháng tư bản, đó là một định luật tự nhiên từ khởi thủy có
con người trên quả địa cầu, không phải đợi đến lúc Các Mác - Lê Nin hô
hào người ta mới biết. Nhưng đối kháng là một việc, phải dựa vào nhau để
phát triển, để sinh tồn là một việc khác, và vấn đề sinh tồn mới là vấn
đề thiết yếu quan trọng.
Vì sinh tồn nên Nga Sô, mặc dầu sau 50 năm cách mang vô sản, ngày nay
vẫn phải tính tới chuyện sinh sống với tư bản Hoa Kỳ, phải ký kết với
Hoa Kỳ những thỏa ước hết sức quan trọng về vũ khí chiến lược, về thương
mại v.v...
Cả Trung Cộng nữa, cũng vì vấn đề sinh tồn nên Mao Trạch Đông, nhân vật
từng tuyên bố coi Mỹ là “con hổ giấy” hồi tháng 2-1972 phải mời Tổng
thống Nixon qua thăm Bắc Kinh, và sau đó, đặt mua của Mỹ nhiều máy móc
dụng cụ, nhiều phi cơ phản lực thương mại Boeing 707, nhiều vạn tấn lúa
mi v.v...
Chính vì chỗ hai hệ thống kinh tế tư bản và vô sản cần kết hợp với nhau
để bổ túc cho nhau nên Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon - nhân vật được
dư luận quốc tế coi là đại diện cho phe tư bản Mỹ - phải đề ra chính
sách đối ngoại mới ở châu Á, nơi Trung Cộng đang lớn mạnh, và sự thay
đổi chính sách này được gọi là “Chủ thuyết Nixon”.
Chương trình Việt hóa là một phần trong toàn bộ chủ thuyết Nixon, mà chủ thuyết này thì lại muốn phản ánh những thực tại:
- Rằng vai trò quan trọng của Hoa-Kỳ là điều cần thiết đối với nền hòa bình thế giới;
- Rằng những quốc gia khác có thể, và phải đảm trách lấy những phần vụ
lớn lao của mình cho chính quyền lợi họ, và cho cả quyền lợi Hoa Kỳ.
Trong bản tương trình gửi đến Quốc hội Hoa Kỳ ngày 25-2-1971, Tổng
thống Nixon khẳng định rằng chủ thuyết của ông, trước hết không thể coi
như là một sự san sẽ gánh nặng hay làm nhẹ bớt gánh nặng của Hoa Kỳ. Chủ
thuyết này có một ý nghĩa tich cực hơn đối với các quốc gia khác và đối
với chính Hoa Kỳ nữa.
Do đó, Hoa Kỳ đang khuyến khích các quốc gia hãy tận lực tham gia việc
thiết lập những kế hoạch, và trù liệu những chương trình, ấn định rõ
tính chất của nền an ninh riêng, và quyết định đường lối tiến hành.
Với chiều hướng đó, tại Việt Nam, Hoa Kỳ đã tuần tự chuyển giao nhiệm
vụ tác chiến cho quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong khi chiến tranh còn
đang tiếp diễn, và triệt thoái gần hết trên nửa triệu quân, chỉ để lại
khoảng hơn 30 ngàn người với nhiệm vụ cố vấn.
Tại Triều Tiên, Hoa Kỳ cũng hành động tương tự, vừa giảm quân số ở Nam
Hàn, vừa khuyến khích việc Hán Thành - Bình Nhưỡng thảo luận với nhau để
đi đến cho hiệp thương.
Tại nhiều nơi khác trên thế giới, Hoa Kỳ cũng giảm bớt sự hiện diện
chính thức của họ, cả dân sự lẫn quân sự. Riêng tại Nhật Bản, Hoa Kỳ đã
trả lại quyền hành chính trên đảo Xung Thằng.
Nói một cách tổng quát, trước đây, trong chiến tranh Triều Tiên và
chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ cáng đáng lấy tất cả, từ việc gửi vũ khí,
chiến cụ, quân đội qua tham chiến, và Hoa Kỳ cũng định làm như vậy tại
nhiều nơi khác trên thế giới. Nhưng ngày nay, qua chủ thuyết Nixon, Hoa
Kỳ không làm như vậy nữa, họ giao trách nhiệm đánh nhau lại cho người
địa phương, còn họ đứng ngoài hỗ trợ bằng uy lực riêng và bằng cách tích
cực viện trợ tiền bạc, vũ khí.
Việc trao trách nhiệm cho dân bản xứ, được chủ thuyết Nixon gọi là “một
sự hợp tác”, “một sự đóng góp” của các quốc gia đồng minh để “đạt đến
một đường lối hữu hiệu hơn và bớt lộ liễu hơn”.
Thực ra ra từ trước tới nay, tại nhiều quốc gia châu Á và châu Âu,
người ta cũng than phiền về sự hiện hữu quá lộ liễu các vị quan chức dân
sự và quân sự Mỹ và sự kiện quá lộ liễu này nên bất cứ biến cố chính
trị nào xảy ra ở đâu, phản ứng rất tiên vẫn là là việc dư luận nghi ngờ
và kết án sự trực tiếp nhúng tay của người Mỹ.
Từ sau ngày chiến tranh thế giới II kết thúc đến nay, tinh ra trên 5
châu thế giới, đã xảy ra khoảng hơn 150 vụ đảo chính. Riêng tại châu Á,
những vụ đảo chính quan trọng nhất như ở Thái Lan (lật đổ Thống chế
Phibul Songgram), ở Nam Dương (lật đổ Tổng thống Sukarno), ở Miến Điện
(lật đổ Thủ tướng U-Nu), ở Cao Mên (truất phế Quốc trưởng Sihanouk) ở
Việt Nam (lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm) v.v... đều bị coi là do người
Mỹ trực tiếp gây nên, và trong tất cả những vị bị lật đổ đó, vị nào
cũng kết án là độc tài, măhc dầu họ đã chứng tỏ nhiều thành tích đấu
tranh chống tlực dân cũ xâm lăng, giành độc lập chủ quyền cho đất nước.
Điều đặc biệt đáng chú ý là sau mỗi vu đảo chính như thế, chế độ dân sự
gián đoạn để cho chế độ quân sự lên thay, và mức độ ảnh hưởng của Mỹ
cũng tăng cao.
Ngày nay, tại khu vực Đông Nam Á, hầu hết các quốc gia đồng minh Hoa Kỳ
đều do phái quân nhân cầm quyền. Với phái này, lẽ đương nhiên việc tăng
cường quân lực và những vấn đề thuộc phạm vi chiến tranh được đặc biệt
củng cố. Một bằng chứng điển hình là trước ngày 18-3-1970. quân đội
Hoàng gia Cao Mên chỉ vào khoảng 30 ngàn người. Nhưng sau ngày Quốc
trưởng Sihanouk bị truất phế, Thống chế Lon Nol lên cầm quyền thì quân
lực Cộng hòa Khmer ngày nay đã có hơn 200 ngàn người, và được huấn luyện
tác chiến theo chiến thuật - chiến lược của Mỹ, được Mỹ trang bị và
viện trợ.
Những sự kiện trên chứng minh cho chúng ta thấy chủ thuyết Nixon muốn
tiến tới giai đoạn nào, và chủ thuyết đó phải chăng là sản phẩm rieng
của cá nhân Nixon, hay nó nằm trong một quá trình tiến triển của chủ
nghĩa tư bản Mỹ? Chủ thuyết đó, đúng như lời của ông William H.
Sullivan, phụ tá Ngoại trưởng Mỹ, phụ trách Đông Nam Á và Thái Bình
Dương sự vụ, tuyên bố trong cuộc họp báo tại Hoa Thịnh Đốn ngày
3-12-1971, rằng “Mặc dầu Hoa Kỳ đang triệt thoái quân lực ra khỏi Đông
Dương - nghĩa là khỏi Việt Nam - nhưng không có một sự triệt thoái hoàn
toàn của Hoa Kỳ khỏi châu Á”.
Ông Sullivan nhán mạnh rằng chủ thuyết Nixon vẫn còn một khoản về sự
viện trợ của Hoa Kỳ đối với mối đe dọa nguyên tử. Nói cách khác, Hoa Kỳ
tiếp tục sử dụng những khả năng riêng để bảo vệ các quốc gia Đông Nam Á
chống bất cứ một đe dọa nguyên từ nào nhằm vào họ. Như vậy, đó là một
bảo đảm quân sự quan trọng nhất mà các quyết định nhận được từ Hoa Kỳ.
Chủ thuyết Nixon đã có những nét gì nổi bật tại các quốc gia Đông Nam Á
và lực lực lượng nguyên tử Trung Cộng có thực sự đe dọa trực tiếp các
quốc gia này không? Điều này chưa thế trình bày khách quan ngay bây giờ.
Riêng trong chiến tranh Việt Nam, chủ thuyết Nixon, qua chương trình
Việt hóa, đã có nhiều điểm đáng lưu ý.
Trước hết, cho tới hiện nay, mặc dầu Hoa Kỳ đã triệt thoái nửa triệu
quân, nhưng cộng sản Bắc Việt vẫn không nuốt nổi miền Nam, trái lại, còn
bị tàn phá kinh khủng ở miền Bắc vì những cuộc oanh tạc dữ dội của
Không lực Mỹ. Những cuộc oanh tạc này xảy ra triền miên từ tháng tư
1972, sau ngày Bắc Việt xua quân vượt tuyến, với mức độ trung bìinh
khoảng 300 phi vụ mỗi ngày, trong số có những phi vụ đặc biệt do pháo
đài bay khổng lồ B-52 thuộc Không quân Chiến lược thực hiện.
Ngoài những trận oanh tạc khủng khiếp nhất trong lịch sử chiến tranh từ
xưa tới này, Bắc Việt còn bị Hoa Kỳ phong tỏa bở biển và vòm trời. Cuộc
phong tỏa này, chẳng những ngăn chặn không cho vũ khí - chiến cụ từ
ngoài lọt vào, đến nguyên liệu và thực phẩm cũng không tới tay Bắc Việt,
dồn họ vào tình thế thiếu thốn hết sức nguy ngập.
Trong khi đó, chiến sự tiếp tục bùng nổ ác liệt tại miền Nam Việt Nam,
nhưng đặc biệt số thương vong của binh sĩ Mỹ chỉ đếm được trên đầu 10
ngón tay và tuyệt đối không có một cuộc đụng độ trực tiếp nào giữa những
đơn vị Mỹ còn lại tại Nam Việt Nam với bộ đội Bắc Việt.
Số thương vong của binh sĩ Mỹ tại Nam Việt Nam không phải chỉ mới giảm
sút gấp đây, mà ngay từ năm 1970, khi bắt đầu thực hiện lịch trình rút
quân, đã giảm sút trông thấy.
Theo bản phúc trình của Tổng thống Noxon đọc trên hệ thống vô tuyến
truyền thanh và truyền hình ngày 30-6-1970 thì trước khi thực hiện
chương trình Việt hóa, số thương vong của binh sĩ Mỹ trong khi chiến
đấy, trung bình mỗi ngày tuần là 278 người. Năm 1969 đã giảm xuống 180
người, Năm 1970, số đó còn lại 80 người rồi 51 người.
Cũng theo bản phúc trình này thì trước 1969 (khi chưa có chương trình
Việt hoá), Hoa Kỳ phải chi tiêu khoảng 22 tỷ Mỹ kim hàng năm cho những
đòi hỏi gia tăng chiến cuộc Việt Nam. Qua năm 1970, số chi tiêu giảm
xuống còn phân nửa.
Những tổn thất của binh sĩ Hoa Kỳ sở dĩ cứ càng ngày càng giảm sút như
vậy, theo Tổng thống Nixon là nhớ những cuộc hành quân càn quét của binh
sĩ Việt Nam Cộng Hòa vào các mật khu Cộng sản ở Kampuchea, Tổng thống
Nixon nói: “Tổn thất của binh sĩ Mỹ giảm sút rất nhiều. Sáu tháng trước
khi có cuộc hành quân vào các mật khu địch, thì tổn thất trung bình mỗi
tuần lễ là 93 người. Sáu tháng sau, tổn thất này chỉ còn 51”.
Binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu mở các cuộc hành quân vượt biên kể từ
tháng 5-1970, sau khi một biến cố chính trị lớn lao bùng nổ ở
Kampuchea, đó là việc Thống chế Lon Nol đứng lên chủ xướng cuộc truất
phế Thái tử Sihanouk để thành lập chế độ Cộng hòa Khmer.
Mặc dầu Tổng thống Nixon tuyên bố rằng “Sự truất phế ông hoàng Sihanouk
vào ngày 18 tháng 3 năm 1970 hoàn toàn bất ngờ đối với Hoa Kỳ cũng như
đối với bất cứ người nào khác”. Nhưng ông lại phải công nhận rằng “Nếu
Hoa Kỳ muốn tiếp tục chính sách trao trảch nhiệm chiến tranh lại cho Nam
Việt Nam, và triệt hồi binh sĩ Mỹ, thì cần phá vỡ các mật khu của địch.
Không theo đường lối đó mà để cho địch tự do gia tăng sư đe dọa mà
không bị trả đũa như thế, không sớm thì muộn, Hoa Kỳ sẽ phải lựa chọn,
hoặc ngừng triệt hồi, hoặc tiếp tục triệt hồi những sẽ có hại cho sinh
mạng những binh sĩ còn ở lại”.
Như vậy, phải nói rằng biến cố chính trị xảy ra ở Kampuchea hồi tháng
3-1970 là nằm trong thắng lợi mới của Tổng thống Nixon. Biến cố đó giúp
cho việc triệt thoái quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam được an toàn và đưa
chiến tranh Việt Nam vào một khúc quanh mới.
Kampuchea là một quốc gia nhỏ bé nằm trên bán đảo Đông Dương, dân số
chừng sáu triệu người, trước ngày 18-3-1970 theo chính sách trung lập
thiên tả, do Thái tử Sihanouk lãnh đạo.
Vì trung lập thiên tả nên hồi Sihanouk còn cầm quyền, ảnh hưởng Cộng
sản tại Kampuchea, để thiết lập nhiều mật khu, nhiều căn cứ hậu cần quan
trọng, xâm nhập và tấn công miên Nam Việt Nam.
Chính phủ hoàng gia Kampuchea của Thái tử Sihanouk từng ký nhiều hiệp
ước với Bắc Việt, trong số đó có hiệp ước Kampuchea phải cho bộ đội Bắc
Việt sử dụng lãnh thổ và phải tiếp tế lương thực cho số binh sĩ này.
Dựa vào những hiệp ước “thân hữu” đó, Bắc Việt thiết lập tại Nam Vang
một Tòa đại sứ nhiều Tòa lãnh sự ở những tỉnh đông Việt kiều.
Ngoài những cơ sở ngoại giao đó, Bắc Việt còn cho xuất bản tại thủ đô
Nam Vang tờ nhật báo Trung Lập làm cơ quan tuyên truyền trong giới Việt
kiều, đồng thời đưa vào Kampuchea nhiều sách vở báo chí ấn hành tại Hà
Nội cùng những tài liệu tuyên truyền xuất xứ từ các quốc gia Cộng sản
khác trên khắp thế giới.
Bắc Việt còn sử dụng các rạp chiếu bóng, các hí trường tại Cao Mên để
chiếu những cuốn phim do chính họ hay Trung Cộng sản xuất. Những cuốn
phim này, hoặc màu hay đen trắng, nói tiếng Việt, tiếng Trung Hoa có phụ
đề.
Hầu hết các gia đình Việt kiều ở Kampuchea còn được cán bộ Cộng sản
phát không ảnh Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông để treo trong nhà, ngang với
chân dung Quốc trưởng Sihanouk; một số gia đình còn trưng cả cờ đỏ sao
vàng thường xuyên hay trong các ngày lễ lớn.
Tại Kampuchea cũng như tại Ai Lao và Thái Lan, có rất đông Việt kiều.
Riêng tại Kampuchea, ở thủ đô Nam Vang và một vài thị trấn lớn như
Svay-Rieng, số Việt kiều có phần lấn lướt dân chúng Cao Mên, và họ chiếm
đến khoảng sáu, bảy chục phần trăm mọi hoạt động nghề nghiệp.
Bay giờ tình hình đã đổi khác nhiều, nhưng thời kỳ Thái tử Sihanouk còn
trị vì, những ai lên viếng thăm Cao Mên, sau khi vượt biên giới Gò Dầu
Hạ thuộc tỉnh Tây Ninh, chắc chắn không có cảm tưởng mình đã ra nước
ngoài, mà vẫn nghĩ mình đang ở một tỉnh thuộc lãnh thổ Việt Nam, bởi lẽ
số Việt kiều quá đông và hầu như nắm trọn mọi ảnh hưởng.
Ngay tỉnh địa đầuu Svay-Rieng, từ chợ búa, trường học, nhà thờ, chùa
chiền và các tiệm buôn toàn do Việt kiều làm chủ. Linh mục, sự sãi, dì
phước, ni cô, thợ thuyền, phu phen, cảc chị bán hàng... đều là người
Việt Nam, nên cái gì cũng mang hình ảnh và mầu sắc Việt Nam.
Đến thủ đô Nam Vang, tuy có người Trung Hoa, Ấn Độ, Pháp chia xớt bớt
ảnh hưởng, nhưng mầu sắc Việt Nam vẫn còn nổi bật. Đa số các tiệm lớn
nhỏ là của người Việt Nam, 80 phần trăm các gian hàng ở chợ mới và chợ
Boong do người Việt Nam làm chủ. Công tư chức làm việc tại bưu điện,
ngân hàng và những cơ sở khác, người Việt Nam cũng chiếm đa số. Các bảng
hiệu, những tấm bích chương quảng cáo... được viết bằng chữ Việt, đặc
biệt tiếng Việt là tiếng phổ thông nhất ngay giữa thủ đô Nam Vang.
Người Việt ở đây nói tiếng Việt đã đành, nhưng người Tàu, người Ấn Độ
và cả chính người Cao Mên cũng nói tiếng Việt luôn, vì hầu hết khách
hàng của họ là người Việt, còn ngôn ngữ Cao Mên thì chỉ có dân chúng Mên
dùng để nói chuyện riêng với nhau, người ngoại quốc ít ai sử dụng tới.
Chung quanh ngoại ô Nam Vang, ảnh hưởng của Việt kiều nhiều hơn, có
những xóm làng hoàn toàn do người Việt Nam trú ngụ, không một công dân
Cao Mên nào có thể chen lấn vào, và các nghề nghiệp làm ăn sinh sống
hàng ngày, từ nghề cao đến nghề thấp, thượng vàng hạ cám đều do người
Việt chiếm hết.
Ảnh hưởng người Việt trên Cao Mên cũng giống như ảnh hưởng người Trung
Hoa ở Chợ Lớn, có điều người Trung Hoa chỉ tập trung vào một Chợ Lớn,
còn người Việt trên Cao Mên tỏa ra khắp nơi, từ trung tâm thành phố đến
ngoại ô, dồn đa số dân chúng Cao Mên vào cái thế chỉ có thể sinh sống
bằng hai nghề: hoặc cày cấy trồng trọt ở thôn quê, hoặc làm phu phen tại
thành thị.
Người Việt Nam sang Kampuchea sinh cơ lập nghiệp bắt đầu từ lúc các vị
vua triều Nguyễn - nhất là thời Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức đưa quân
chinh phục nước này. Thời Gia Long, Đức Tả quân Lê văn Duyệt từng sang
trấn nhậm Cao Mên và đắp thanh Nam Vang ngày nay.
Vì những cuộc chinh phục triền miên đó, và vì việc vượt biên giới giữa
Việt Nam và Kampuchea quá dễ nên số người Việt sang Cao Mên ngày càng
đông. Thêm vào đó, hồi Pháp thuộc, vì chính sách chia để trị, dùng người
xứ nọ, hà hiếp xứ kia, nên dân chúng và thầy chú người Việt được khuyến
khích lên Cao-Mên, càng khiến cho số Việt kiều tăng cao, và tạo cho họ
mặc cảm coi thường, khinh rẻ dân bản xứ. Mặc cảm này đã đào sâu hố xa
cách giữa người Việt với người Miên, và tạo nên mối thâm thù, gây vụ qua
tai hại trong phong trào “cáp duồn” hồi 1970.
Vì nhận thấy ảnh hưởng người Việt ngày càng gia tăng nên Thái tử
Sihanouk ngả theo chủ nghĩa trung lập thiên tả, dựa vào sự ủng hộ của
Trung Cộng - Nga Sô để làm khó dễ Việt kiều, cấm Việt kiều làm nhiều
nghề và ban hành đạo luật buộc người Việt phải gia nhập Miên tịch.
Tâm trạng của Quốc trưởng Sihanouk cũng là tâm trạng của đa số dân chúng Mên, oán ghét và căm thù người Việt.
Vì oán ghét người Việt nên hồi Đệ nhất Cộng hòa ở Việt Nam, Quốc trưởng
Sihanouk đã gây khó khăn đủ điều và coi miền Nam Việt Nam cũng như Ai
Lao là những nước láng giềng thù nghịch.
Vì coi Nam Việt Nam là quốc gia thù nghịch nên Quốc trưởng Sihanouk mới
cho Bắc Việt sử dụng lãnh thổ Kampuchea lập căn cứ tấn công Việt Nam
Cộng hoà, đồng thời đòi Việt Nam Cộng Hòa vẽ lại đường ranh biên giới,
giao đảo Phú Quốc cùng một số tỉnh Hậu Giang cho Cao Mên.
Hồi này, giữa Kampuchea và miền Nam Việt Nam chỉ trao đổ đại diện chứ
không có Đại sứ, và tuy chấp nhận ông Ngô Trọng Hiếu làm đại diện cho
miền Nam Việt Nam, nhưng nhiều khi vị đại diện này không được đối xử
theo đúng luật lệ ngoại giao quốc tế, trái lại còn gây trở ngại và đôi
lúc tỏ thái độ khinh mạn.
Một trong những thái độ khinh mạn, vi phạm nghiêm trọng luật lệ ngoại
giao quốc tế của Quốc trưởng Sihanouk đối với vị đại diện Việt Nam Cộng
Hòa là chặn xe riêng ông Ngô Trọng Hiếu trên quốc lộ số 1 nối liền Nam
Vang - Sài gòn để xét hỏi giấy tờ và lục lọi hành lý. Có khi Quốc trưởng
Sihanouk còn cấm, không cho phép ông Ngô Trọng Hiểu đi thăm Việt kiều.
Nguyên nhân của những vụ rắc rối biên giới, rắc rối ngoại giao giữa
Việt Nam Cộng Hòa và Kampuchea, một phần do chủ trương của Chính phủ
Pháp, phần khác do cộng sản Bắc Việt đứng sau lưng giật dây, nhưng chắc
chắn Hoa Kỳ cũng có trách nhiệm, vì chính sách của Mỹ hồi bấy giờ là gây
rối ở Đông Dương để loại bỏ ảnh hưởng cùng quyền lợi kỳ cựu của thực
dân Pháp.
Những rắc rối giữa hai phe quốc gia cùng nằm chung trên bán đảo Đông
Dương càng ngày càng biến thành một ngòi nổ nguy hiểm, và đến nay thì nó
thực sự bùng nổ, gây nên cuộc chiến toàn diện.
Nhìn vào bản đồ, chúng ta thấy lãnh thổ Kampuchea giống như một quả
banh, nằm lọt giữa những đôi chân của các đấu thủ Việt Nam, Ai Lao và
Thái Lan, tất cả mọi ngã thông thương ra nước ngoài đều phải qua lãnh
thổ Việt Nam Cộng Hòa hoặc Thái Lan, nếu hai quốc gia này đóng cửa biên
giới thì Kampuchea hoàn toàn lâm cảnh bế tắc.
Trong hoàn cảnh đó, vì vấn đề sinh tồn, dĩ nhiên Kampuchea phải lựa thế
đứng và phải tìm cho mình một hướng đi. Thế đứng và hướng đi đó là
chính sách trung lập thiên tả, nhận viện trợ của cả ba bốn phe, vừa của
Nga Sô - Trung Cộng, vừa của Pháp và Hoa Kỳ.
Pháp xây cho Kampuchea hải cảng Silianoukville nhằm giúp Kampuchea thát
khỏi thế kẹt với Sài gòn, trong trường hợp hai nước gây hấn và Sài gòn
đóng cửa thủy lộ Cửu Long giang và giòng sông Cửu Long vốn là thủy lộ
chính chở đồ tiếp liệu lên Cao Mên.
Vì sự quan trọng của sông Cửu Long đối với Kampuchea nên hồi Đệ nhất
Cộng hoà, tuy dự án xây cất cầu Bắc Mỹ Thuận đã hoàn thành, song rốt
cuộc không thể thực hiện, bởi Kampuchea nhất quyết phản đối.
Việc thiết lập hải cảng Sihanoukville, tuy nói để tránh cho Kampuchea
khỏi thế kẹt, nhưng ẩn khúc bên trong thì đã là một hải cảng chiến lược
quan trọng, và càng quan trọng hơn, nếu sau khi chiến tranh lan rộng
khắp Đông Nam Á.
Trong khi người Pháp thiết lập hải cảng Sihanoukville thì Hoa Kỳ lại
giúp Cao Mên đắp xa lộ nối liền hải cảng đó với thủ đô Nam Vang. Xa lộ
này dài trên 200 cây số, và là một trong những xa lộ quan trọng bậc nhất
châu Á về phương diện chiến lược, chẳng kém gì xa lộ Biên Hòa tại Việt
Nam Cộng Hòa hay xa lộ tại vùng Đông Nam Thái Lan (cũng do Hoa Kỳ xây
đắp), vì hiện nay, dọc theo những xa lộ này, có nhiều căn cứ quân sự của
Mỹ, trong số có căn cứ Utapao ở Thái Lan, chứa pháo đài bay khổng lồ
B-52 thuộc Không quân chiến lược Mỹ.
Trung Cộng - Nga Sô cũng góp phần vào công cuộc viện trợ cho Kampuchea,
nào trường học, nào nhà thương, và cả vũ khí, đạn dược. Đặc biệt Trung
Cộng, qua ngả Bắc Việt, đã chở giúp Kampuchea những loại vũ khí mới như
các kiểu súng AK mà hiện nay người ta thấy bộ đội Cộng sản thường sử
dụng trong chiến tranh Việt Nam.
Một nước nhược tiểu, dân số quá ít, có một vị trí địa lý không mấy
thuận lợi, lại nhận viện trợ của hai ba phe nên nền trung lập của
Kampuchea chỉ nên trung lập giả tưởng, do các cường quốc cố ý tạo ra để
ảnh hưởng của mình chen lấn và khi thế lực quốc tế mất thăng bằng thì
biến cố bùng nổ.
Quốc trưởng Sihanouk dù được mô tả như thế nào, thì tựu trung ông vẫn là một nhà lãnh đạo bị đôi bên giằng níu.
Đối với Cộng sản, dĩ nhiên ông không phải là hạng giai cấp được dung
nạp, và bản chất của ông cũng không thể trở thành con người Mác-xit
thuần tuýy, nhưng ông phải bám níu vào họ để giữ thế quân bình.
Đối với phe tư bản Hoa Kỳ, tuy thường lên tiếng đả kích, những chỉ là
một thứ đả kích để lấy lòng Cộng sản, ông vẫn không dám buông rơi, vì
một phần, ông vẫn được Mỹ viện trợ đều đều, phần khác, Hoa Kỳ là cái
bình phong, là chiếc khiên giúp ôngg chống đỡ một cách hiệu quả qua các
chưởng phong của Cộng sản.
Nếu Quốc trưởng Sihanouk có phần nào tự bảo đã lợi dụng được cả Pháp
lẫn Trung Cộng, Nga Sô và Hoa Kỳ thì trái lại, những cường quốc này cũng
không phải thực tâm giúp Kampuchea xây dựng một nước trung lập cường
thịnh với đầy đủ chủ quyền và nền độc lập.
Phía Cộng sản - đặc biệt là Cộng sản Bắc Việt, đã lợi dụng nền Trung
lập giả tưởng của Kampuchea để xâm nhập người và vũ khí, biến lãnh thổ
Kampuchea thành một căn cứ địa vững chắc, chẳng những đe dọa Nam Việt
Nam mà còn đe dọa cả Thái Lan và khắp vùng Đông Nam Á.
Phía Hoa Kỳ, vin vào cớ Cộng sản Bắc Việt, đã thường xuất phát từ lãnh
thổ Kampuchea để tấn công Nam Việt Nam, gây nguy hiểm đến tính mạng của
hơn nửa triệu binh sĩ Mỹ, nên họ phải rch đảo chính và sau đó, hợp lực
với Quân đội Việt Nam Cộng Hòa mớ các cuộc hành quân vượt biên.
Trước kia, dân chúng Cao Mên đã có ác cảm rất nhiều với người Việt Nam,
những kể từ khi bộ đội Bắc Việt xâm nhập vào thì mọi ác cảm này giống
như lửa đỏ bỏ thêm dầu, soi sục lên và biến thành phong trào “cáp duồn”
người Việt.
Trước 18-3-1970 là ngày Quốc hội Cao Mên ra quyết nghị truất phế Quốc
trưởng Sihanouk, dân chúng Cao Mên đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình tràn
vào các căn cứ quân sự Cộng sản Bắc Việt cướp giật vũ khí, căng biểu
ngữ, hô khẩu hiệu “đả đảo Việt Cộng bẩn thỉu”.
Tại thủ đô Nam Vang, dân chúng, học sinh, sinh viên và thanh niên cuồng
nhiệt tràn vào Tòa đại sứ Bắc Việt và Việt Cộng đập phá tan hoang, hành
hung các nhân viên, gây thương tích trầm trọng cho một cán bộ Cộng sản.
Trước sự phẫn nộ tột độ của quần chúng, tối 11-3-1970, Quốc hội Cao Mên
họp khẩn cấp, ra quyền nghị hoàn toàn ủng hộ các cuộc biểu tình, và đòi
Chính phủ hoàng Gia phải áp dụng những biện pháp cứng rắn, bảo vệ lãnh
thổ Kampuchea khỏi bị Cộng sản Bắc Việt xâm lấn.
Giữa bầu không khí sục sôi căm thù đó, Hoàng thái hậu Kampuchea cũng
lên tiếng trên đài phát thanh, nhấn mạnh rằng các cuộc biểu tình đầp phá
cơ sở ngoại giao và quân sự cộng sản Bắc Việt là một sự phát triển của
lòng phẫn nộ của quần chúng Cao Mên trước những hành động cố ý xâm lăng
của cộng sản Bắc Việt.
Nghị quyền của Quốc hội với những lời tuyên bố của Hoàng thái hậu như
liều thuốc kích thích, càng làm cho phong trào quần chúng Cao Mên lan
tràn và lên cao tột độ, họ lăn xả vào các căn cứ Cộng sản Bắc Việt,
khiến quân Bắc Việt phải nổ súng, đi đến đổ máu.
Xác người Kampuchea ngã gục, máu dân Kampuchea đã đổ vì súng đạn ngoại
bang, thế là tấn bi kịch ở Kampuchea bắt đầu, gây hậu quả nghiêm trọng
đến chiến tranh Việt Nam.
Ngày 12-3-1970, trước áp lực của quần chúng và Quốc hội, Chính phủ
Hoàng gia Cao Mên gửi hai tối hậu thư cho Bắc Việt và Việt Cộng, ra hạn
ba ngày phải rút hết tất cả bộ đội khỏi lãnh thổ Kampuchea, nhưng Bắc
Việt và Việt công chẳng những không thèm trả lời tối hậu thư mà còn gửi
giác thư buộc Chính phủ Hoàng gia Cao Mên phải bồi thường mọi thiệt hai
vì các vụ đập phá của dân chúng Mên.
Trước thái độ khinh mạn của Bắc Việt và Việt Cộng. Chính phủ Hoàng gia
cùng dân chúng Cao Mên đâm ra căm thù tất cả người Việt, không phân biệt
cộng sản hay quốc gia, và phong trào “cáp duồn” nổ bùng, khiến hàng
chục ngàn Việt kiều bị tàn sát đã man, hàng trăm ngàn người khác phải
hồi hương về Việt Nam Cộng Hòa.
Thảm cảnh người Việt bị dân chúng và quân đội Hoàng gia Cao Mên “cáp
duồn” hồi tháng 3-1970 đã được nhiều thông tín viên quốc tế mô tả là
kinh khủng chưa từng thấy, kinh khủng hơn cả những cuộc tàn sát giữa
người da trắng với mọi da đỏ bên châu Mỹ.
Ngứci Mên giết người Việt bằng nhiều hình thức, có nơi, dân chúng Mên
tự động tràn vào các xóm Việt kiều, lôi cứ từng người ra thọc huyết hoặc
thiêu sống.
Có nơi, người Mên trói quặt người Việt thành từng chùm rồi dùng cây tre
nhỏ vót nhọn, đâm suốtt người nọ qua người kia, đem thả sông, và trên
đầu cay tre treo tấm bảng viết những dòng chữ bộc lộ căm thù.
Chẳng những dân chúng Mên tự động “cáp duồn” Việt kiều mà cả Chính phủ
Hoàng gia Mên và quân đội Kampuchea cũng tổ chức những vụ giết tập thể
người Việt, giống như Quốc Xã Đức giết người Do Thái trong thế chiến II.
Hồi đó, Chính phủ Hoàng gia Cao Mên cho quân đội đi ruồng bố trong các
thôn áp, bắt Việt kiều về tập trung vào một nơi, dùng dây kẽm gai căng
chung quanh và đặt trạm canh gác nghiêm ngặt, rồi chờ đêm tối, vừa phóng
hỏa vào đốt trại để thiêu sống Việt kiều, vừa ném lựu đạn tới tấp, vừa
xả súng trung liên bắn bừa trong khi chính miệng họ hô to: “Việt Cộng!”
Một số lớn xác Việt kiều bị tàn sát, được thả xuống giòng sông Cửu
Long, khiến một dạo, những làng sống dọc hai bên bờ không dám dùng nước
còn sông ấy.
Mấy phóng viên quốc tế săn tin trên đất Mên, hồi tháng 3-1970, khi đi
ngang bến phà Net Luông, vì tò mò, đã đếm một lúc được khoảng bốn, năm
trăm xác Việt kiều trôi lềnh bềnh, tay chân bị trói và bị giết bằng
nhiều hình thức.
Phong trào “cáp duồn” Việt kiều là màn đầu của biến cố 18-3-1970, và
khi biến cố này bùng nổ thì Cộng sản Bắc Việt không còn tôn trọng luật
pháp, chủ quyền cùng nền độc lập của Kampuchea, dồn Chính phủ Hoàng gia
Cao Mên vào chân tường, đi đến chỗ quyết định vô hiệu hóa tất cả những
hiệp ước ký kết với Bắc Việt và Việt Cộng từ trước đến nay, trong đó có
hiệp ước buộc Cao Mên phải cung cấp lúa gạo, thực phẩm cho bộ đội Cộng
sản Bắc Việt trú đóng trên đất Miên. Điều bất hạnh cho quốc gia nhỏ bé
này là sau biến cố 18-3-1970, dân chúng Kampuchea mới thực sự phải nếm
mùi chiến tranh, và mới biết cái nhục của một cuộc chiến cốt nhục do các
thế lực ngoại bang chủ ý gây nên.
Không hiểu có phải là một sự tình cờ hay do bàn tay ai sắp đặt trước mà
trong khi Quốc trưởng Sihanouk mở cuộc công du qua Pháp - Nga Sô và
Trung Cộng, thì tại quốc nội Kampuchea, ngọn gió chính trị bỗng xoay
chiều, đi đến chỗ bắt buộc Quốc hội phải nhóm họp khẩn cấp suốt buổi
chiều 18-3-1970, và đến tối, đài phát thanh Nam Vang bất thần loan tin
Hội đồng Hoàng tộc và Quốc hội Kampuchea đã truất phế Thái tử Sihanouk
khỏi chức vụ Quốc trưởng và Chủ tịch Quốc hội Cheng Heng được chỉ định
làm quyền lãnh đạo quốc gia cho tới khi có cuộc bầu cử.
Biến cố này xảy ra đúng lúc Thái tử Sihanouk vừa từ Ba Lê qua Mạc Tư
Khoa để chính thực mở cuộc viếng thăm Cộng hòa Liên bang Sô Viết, và ông
được Chủ tịch nhà nước Liên Sô thông báo tin này với thái độ bình tĩnh.
Khi hay tin bị truất phế, Thái tử Sihanouk vẫn tươi cười tuyên bố hy
vọng Nga Sô và Trung Cộng giúp sức, ông sẽ có thể lật ngược thế cờ, và
trở về nước nắm chính quyền.
Tuy nhiên chỉ mấy ngày sau, khi ông từ Mạc tư Khoa tới Bắc Kinh, ông
mới cảm thấy r rằng mọi hy vọng về cướp lại chính quyền đều tiêu tan, và
bắt đầu tố cáo Hoa Kỳ đã nhúng tay vào vụ truất phế.
Lời tuyên bố của Thái tử Silianouk hoàn toàn mâu thuẫn với lời khẳng
định của Tổng thống Nixon trong bản phúc trình gửi Quốc hội Mỹ ngày
25-2-19.71, cho rằng “Sự truất phế ông Hoàng Sihanouk vào ngày 18-3-1970
là một sự hoàn toàn bất ngờ đối với chúng ta”.
Tuy nhiên, cũng trong bản phúc trình này, Tổng thống Nixon lại cho biết
rằng phản ứng đầu tiên của Hoa Kỳ sau khi ông Hoàng Sihanouk bị truất
phế là khuyến khích những thương thuyết mà Chính phủ Kampuchea đang tìm
kiếm với Cộng sản, nhưng Hà Nội thẳng tay bác bỏ mọi cuộc thương thuyết
như vậy, và đã tức tốc điều động binh sĩ để nối liền những mật khu của
họ, tạo nên sự đe dọa gia tăng đối với Chính phủ trung lập Kampuchea.
Hoa Kỳ có nhúng tay vào vụ truất phế ông Hoàng Sihanouk hay không? Điều
này, đến nay chưa một tài liệu chính thức nào tiết lộ, chỉ biết rằng
trước biến cố 18-3-1970, Cộng sản Bắc Việt ở Kampuchea chỉ tập trung vào
những mật khu lớn, dài khoảng 600 dặm dọc biên giới Việt - Miên, nhưng
sau biến cố, họ đã tỏa ra khắp nơi như kiến vỡ đàn, như ong vỡ tổ, đưa
Kampuchea vào tình trạng nguy ngập.
Chính Tổng thống Nixon cũng nhìn nhận rằng Hoa Kỳ phải đối phó với viễn
ảnh mật khu rộng lớn đó của Cộng sản Bắc Việt, và một đường tiếp tế
vững chắc từ hải cảng Sihanoukville mà địch đã sử dụng suốt trong sáu
năm qua để chuyển vận phần lớn chiến cụ vào miền Nam Việt Nam. Với mật
khu và đường tiếp liệu đó, bộ đội Cộng sản Bắc Việt có thể tấn công quân
đội Đồng minh rồi rút lui mà không bị trả đũa. Như thế có nghĩa là cuộc
tấn công mà địch sẽ gia tăng, và tổn thất của Hoa Kỳ cùng quân đội Đồng
minh cũng sẽ lên cao, sự việc đó còn là một đe dọa rõ ràng cho công
cuộc Việt hóa, cho chương trình triệt hồi binh sĩ Mỹ, và cho an ninh Nam
Việt Nam.
Qua những lời khẳng định của vị lãnh tụ Hoa Kỳ, người thấy rõ rằng biến
cố 18-3-1970 xảy ra ở Kampuchea, không phải là một thúc bách của chương
trình Việt hóa. Nhờ biến cố đó, quân đội Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ
mới có thể hành quân vượt biên, càn quét các mật khu Cộng sản, bảo đảm
an toàn cho lịch trình rút dần binh sĩ Đồng minh ra khỏi Việt Nam.
Chương 8

ể có một hình ảnh rõ ràng về sự liên hệ của Hoa Kỳ vào chiến tranh Việt
Nam; chúng ta hãy nhắc lại những đoạn tài liệu mật của Bộ Quốc phòng
Hoa Kỳ mà báo chí đăng lại hồi tháng 6-1971.
Theo tài liệu mật thì từ 1945 đến 1950, hai Chính phủ Truman và
Eisenhower đã có nhiều quyết định quan trọng về chính sách của Mỹ đối
với Việt Nam mà quần chúng Mỹ không hề hay biết, mãi tới lúc Kennedy lên
làm Tổng thống năm 1961, mới nhận thấy Mỹ đã liên hệ quá nhiều vào công
cuộc phòng thủ Việt Nam Cộng Hòa.
Tài liệu mật cho biết từ cuối 1945 đến 1946, Hồ Chí Minh đã tám lần gửi
thư cho Tổng thống Truman và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, yêu cầu giúp đỡ để
chống Pháp giành độc lập.
Thư của Hồ Chí Minh gửi cho Mỹ đúng vào giai đoạn Hoa Kỳ với Nga Sô
đang tranh giành quyền lợi kinh tế do Nhật để lại ở Mãn Châu và vùng
Đông bắc nước Tàu, và vì muốn độc chiếm những nguồn lợi to lớn này nên
Nga đã triệt để ủng hộ Trung Cộng, để Trung Cộng đánh bật phe Quốc gia
lui dần về phía Nam. Bởi thế, Chính phủ Truman mới quyết định viện trợ
cho Pháp chống Việt Minh và tìm cách đưa Bảo Đại sang Côn Minh để năm
1949, giải pháp Bảo Đại thành hình.
Với giải pháp Bảo Đại, Hoa Kỳ tin tưởng sẽ tiến tới thành lập một Chính
phủ quốc gia có quân đội riêng, có ngân sách riêng, có nền hành chánh
riêng, rồi ép buộc Pháp phải tuyến bố trao trả độc lập hoàn toàn cho
Việt Nam, như vậy, chính quyền Việt Minh đương nhiên mất hẳn danh nghĩa
và trở thành “bọn phiến loạn”, đúng như lời ông Nguyễn Quốc Định, đại
biểu chính quyền Bảo Đại tham dự hội nghị Geneve 1954, tuyến bố tại
phiên họp hôm 12-5-1954: “... từ 1954, dân chúng Việt Nam đã để cho Việt
Minh lãnh phần thực hiện Độc lập và Dân chủ của xứ sở, mặc dầu lúe ấy
Cộng sản đã có những mâu thuẫn trong nội bộ Việt Minh rồi. Nếu Cộng sản
giữ lời hứa thì sự thống nhất Việt Nam từ hồi 1946 đã không gẫy đổ như
ngày nay. Công cuộc chấp chánh của Việt Minh đã đi tới một cuộc khủng
hoảng, khiến Quốc trưởng Bảo Đại phải thay thế Việt Minh cai trị xứ sở.
Chính phủ của Quốc trưởng đã thực hiện trong mấy năm nay, vì dụ lịch sử
thống nhất quốc gia do Pháp trao trả Nam Kỳ lại cho Việt Nam và dùng Sài
gòn làm thủ đô. Sự thành lập một đạo quân quốc gia 300 ngàn người, sự
thành lập ngân sách. Đã có 35 nước nhìn nhận Việt Nam (của Bảo Đại) và
Việt Nam hiện nay là hội viên của nhiều cơ quan quốc tế. Nhò sự hiểu
biết của Pháp và sự nỗ lực tranh đấu của Quốc trưởng Bảo Đại, Liên hiệp
Pháp và Việt Nam đã ký kết một tuyến ngôn nhìn nhận nền độc lập cho Việt
Nam kể từ ngày 25-4-1954”.
“... ngày nay độc lập đã thực hiện xong, Việt Minh không còn lý do để
tiếp tục cuộc chiến tranh nữa. Nếu họ còn tiếp tục, họ sẽ bị coi như
phong trào rối loạn”.
Thê nhưng cái gọi là “nền độc lập” mà Pháp trao trả cho Việt Nam chỉ là
chiếc bánh vẽ, Quốc trưởng Bảo Đại không được sự tín nhiệm của những
người quốc gia, và chính quyền của ông bị lệ thuộc vào Pháp hoàn toàn,
đó là điều sai ý muốn của Hoa Kỳ, nên khi Tổng thống Eisenhower thuộc
đảng Cộng hòa lên cầm quyền hồi 1953 thì lá bài Ngô Đình Diệm được dùng
thay thế lá bài Bảo Đại.
Việc Mỹ xài lá bài Ngô Đình Diệm thay Bảo Đại, ngoài mục đích nhờ uy
tín của nhân vật quốc gia cực đoan này để loại bỏ hẳn ảnh hưởng Pháp ở
Việt Nam, hầu Hoa Kỳ có thể nhảy vào thay thế; còn mang một ý nghĩa sâu
xa hơn, nhằm tránh cuộc tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam - Băc như
hiệp ưởc Geneve quy định.
Tại sao Mỹ sợ một cuộc tổng tuyển cử như vậy? Rất dễ hiểu, bởi vì tuy
giải pháp Bảo Đại đã ra đời từ 1949, nhưng cho tới 1954 vẫn hãy còn quá
yếu về mọi mặt, và hoàn toàn chưa có một nền hành chính quy củ từ trung
ương xuống tận hạ tầng các thôn ấp khắp Việt Nam. Trên thực tế, chính
quyền đó chỉ kiểm soát được những thành thị lớn, còn nông thôn đều lọt
vào tay quân du kích Việt Minh, Tổng tuyển cử trong một tình trạng như
thế, khác gì đem Việt Nam dâng cho Cộng sản Việt Minh?
Mặt khác, chính sách của Hoa Kỳ lại gây tình trạng bất ổn tại các quốc
gia châu Á bằng những cuộc chiến tranh cục bộ, nếu để một trong hai phe
Quốc-Cộng ở Việt Nam thắng hay bại hoàn toàn thì cuộc chiến tranh đó sẽ
không còn nữa. Điều này không có lợi gì cho Hoa Kỳ?
Với chính sách đó, Hoa Kỳ giúp ông Ngô Đình Diệm truất phế Bảo Đại để
lên làm Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, nhưng sau đó không lâu, Hoa Kỳ
hoàn toàn thất vọng, vì không sai khiến nổi ông Diệm, không thể biến ông
Diệm thành một Tổng thống bù nhùn tay sai, chỉ “ngồi chơi xơi nước”.
Năm 1961, Tổng thống John F. Kennedy thuộc đảng Dân chủ lên thay Tổng
thống Eisenhower. Việc trước tiên của Chính phủ này thi hành ở Việt Nam
là làm áp lực, buộc ông Ngô Đình Diệm phải chấp nhận để Mỹ tăng phái bộ
cố vấn của họ ở Việt Nam lên 16 ngàn người, người ông Diệm nhất định
không nghe, và hễ sang dư người nào ngoài con số ấn định là bị trục xuất
ngay trong vòng 24 tiếng đồng hồ.
Trước thái độ ngoan cố, cứng đầu cứng cổ của ông Ngô Đình Diệm, Tổng
thống Kennedy phải quyết định “cúp viện trợ”. Theo những tài liệu được
phát giác sau này thì trong khoảng từ tháng 4 đến tháng 9-1963, Chính
phủ Ngô Đình Diệm không còn nhận được một đồng xu nhỏ nào của Hoa Kỳ nên
chẳng biết lấy tiền đâu trả lương cho công chức - quân nhân, khiến ông
Diệm phải tạm vay tiền Ngân hàng quốc gia Việt Nam, vay quỹ bù trừ hối
đoái và quỹ hưu bổng công chức quân nhân.
Theo tiết lộ của bà Ngô Đình Nhu trong bản tài liệu “La paix!... A quel
prix” phổ biến tại châu Âu ngày 7-10-1966 thì “Về phần chồng tôi (tức
cố vấn Ngô Đình Nhu), trong cuộc chiến đấu cho quần chúng, nếu ông đã tự
giới hạn trong sự tự vệ chân chính, chống lại chủ nghĩa Cộng sản và chỉ
dùng chiến tranh du kích chống lại chiến thuật du kích mà Cộng sản đã
gây ra, thì chỉ từ những lý do nhân đạo hơn là chính trị. Do đó, chúng
tôi đã bảo vệ được độc lập xứ sở mà không cần đến sự can thiệp của các
lực lượng ngoại quốc.
Năm 1963, nhờ vào sự thiết lập nhanh chóng hệ thống Ấp chiến lược mà
các vùng thôn quê trọng yếu được bảo vệ, mặc dù có một chiến dịch tuyên
truyền quốc tế của Cộng sản và của người Mỹ đã không ngớt đả kích chương
trình này. Như vậy, chúng tôi đã hoàn thành không cần đến những đoàn
quân ngoại quốc trong việc bảo vệ xứ sở chúng tôi, nhất là trong lãnh
vực của cuộc chiến tranh phá hoại do cộng sản gây ra.
Nhờ thành công của chương trình Ấp chiến lược nên chúng tôi chỉ còn cần
những sĩ quan Hoa Kỳ làm huấn luyện viên, dậy cho Quân lực Việt Nam
Cộng Hòa cách sử dụng vũ khí và các loại trực thăng do Mỹ viện trợ.
Khi chiến thắng đã ló dạng, người Mỹ theo sáng kiến riêng của họ, đã
gửi sang Việt Nam cho chúng tôi nhiều cố vấn hơn, nâng tổng số lên 12
ngàn người.
Tổng thống Ngô Đình Diệm và chúng tôi nhận thấy con số này quá nhiều so
với nhu cầu nên nhất quyền chống lại. Do đó mà báo chí Mỹ đã vội vã gán
cho Tổng thống Diệm và chồng tôi là “những kẻ chống Mỹ”.
Nên biết Tổng thống Kennedy đã từng xác nhận công khai rằng “Những cố
vấn Hoa Kỳ sẽ rút về ngay khi Chính phủ yêu cầu”, nhưng thay vì đưa về
lập tức ít nhất là phân nửa số cố vấn hiện hữu tại Việt Nam như lời hứa
thì trái lại, Tổng thống Kennedy cho gửi ngay tức khắc sang Việt Nam một
số cố vấn khác đông gấp đôi số hiện có, nghĩa là vào khoảng 16 ngàn
người tất cả bất chấp những phản ứng quyết liệt của Chính phủ Việt Nam
Cộng Hòa, vì vậy mà chiến cuộc bắt đầu leo thang.
Lúc bấy giờ, cái phi lý của người Mỹ là đòi hỏi chúng tôi những cái mà
Chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ đang tìm kiếm. Họ bảo hoàn cảnh 1963 cho
phép họ làm như vậy, khiến tính cánh hợp pháp của Chính phủ Việt Nam
Cộng Hòa hồi bấy giờ phải hoàn toàn tùy thuộc vào sự phản đối hay đồng ý
của người Mỹ.
Năm 1963, áp lực của Hoa Kỳ được thể hiện trong vấn đề mà Tổng thống
Kennedy gọi là “nỗ lực chiến tranh”, và những sáng kiến của chúng tôi về
công cuộc chống du kích hoặc phản công trong trường hợp Bắc Việt chuyển
từ chiến. tranh du kích qua chiến tranh quy ước đã không được Chính phủ
Mỹ chú ý, Điều này đủ để giải thích tại sao Tổng thống Ngô Đình Diệm và
chúng tôi đã nhất quyết từ chối sáng kiến “leo thang chiến tranh”, và
chính vì nguyên do này mà chúng tôi bị Hoa Kỳ tố cáo liên tiếp là “thụ
động trong nỗ lực chiến tranh”, và phải chịu nhiều sự che trách nặng nề
về mọi phía.
Vì vậy mà Tổng thống Kennedy đã đòi phải có sự thay đổi chính trị và
nhân sự tại miền Nam Việt Nam, để cho “nỗ lực chiến tranh” khỏi bị trở
ngại, và Đại sứ Henry Cabot Lodge được ủy nhiệm chuyển giao cho Chính
phủ Sài gòn một bức thông điệp với lời lẽ rõ rệt hơn.
Bức thông điệp buộc Tổng thống Ngô Đình Diệm phải loại bỏ người em là
Cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu, và buộc chồng tôi cùng tôi phải tự nguyẹn
rời khỏi xứ sở vĩnh viễn, để cho Hiệp Chủng Quốc khỏi phải áp dụng
những biện pháp khác mà họ có thể dùng để chống lại Chính phủ Nam Việt
Nam”.
Những tố cáo trên đây của bà Ngô Đình Nhu hoàn toàn phù hợp với các tài
liệu mật của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ mà báo Mỹ Boston Globe đăng tải hồi
tháng 6-1971. Tài liệu này nói rằng “Ngay từ ngày 1-5-1961 (nghĩa là
Trung Hoa lục địa ông Kennedy làm lễ nhận chức Tổng thống Hoa Kỳ được
năm tháng), Tổng thống Kennedy đã chấp thuận bằng công văn số 52 toàn bộ
kế hoạch hoạt động quân sự bí mật do một Ủy ban đặc biệt nghiên cứu về
vấn đề Việt Nam đệ trình”. Kế hoạch này gồm các điểm sau đây:
- Gửi điệp viên ra Bắc Việt hoạt động và dùng phi cơ dân sự thả dù tiếp
tế cho những điệp viên này (phi cơ dân sự này do các phi công mang quốc
tịch châu Á điều khiển, hầu hết là công dân Đài Loan thuộc Trung Hoa
Quốc Gia).
Lén đưa Lực lượng đặc biệt từ miền Nam Việt Nam sang vùng Đông Nam Ai
Lao lùng diệt căn cứ và lộ tuyến tiếp tế của Cộng sản Bắc Việt (Lực
lượng đặc biệt này được Chính phủ Ngô Đình Diệm thành lập dưới sự thúc
đẩy của Mỹ, do Mỹ huấn luyện, võ trang và đài thọ lương bổng. Lực lượng
này đặt dưới quyền chỉ huy của đại tá Lê Quang Tung, và ông này đã bị
thủ tiêu hôm đảo chính 1-11-1963).
- Thiết lập những ổ võ trang chống Cộng sản Bắc Việt; những căn cứ bí
mật, những toán phá hoại, quấy nhiễu hậu tuyến đối phương.
- Tổ chức các phi vụ thả truyền đơn xuống lãnh thổ Bắc Việt, phát động
du lích chiến, và nếu cần, cho cố vấn Hoa Kỳ tham chiến để đối phó với
mọi nỗ lực tiếp liệu của Cộng sản Bắc Việt quanh vùng Tchépone (Ai Lao).
Song song với kế hoạch này, Đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam Cộng Hòa hồi bấy
giờ là tướng Maxwell Taylor còn gửi phúc trình mật ngày 2-11-1961, yêu
cầu Tổng thống Kennedy cho gửi gấp 8 (tám) ngàn bộ binh Hoa Kỳ sang Nam
Việt Nam, bề ngoài lấy cớ là tham dự công tác cứu trợ nạn lụt miền Trung
và miền Tây, và nếu với số quân này mà “không làm nổi chuyện gì” thì
Hoa Kỳ vẫn có cớ đưa thêm quân sang Nam Việt Nam.
Tất cả những kế hoạch trên Hoa Kỳ không phải nhằm tiêu diệt Cộng sản,
mà nhằm mở rộng và leo thang chiến tranh, hầu chính sách của Mỹ ở châu Á
được thực hiện, nhưng bị một chướng ngại rất lớn lao ngăn cản là sự
không đồng ý của Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Muốn san bằng chướng ngại vật này, biện pháp trước tiên được Tổng thống Kennedy đem ra áp dụng là dùng viện trợ Mỹ làm áp lực.
Về viện trợ Mỹ hồi bấy giờ, tập tài liệu bà Ngô Đình Nhu cho biết:
“Cần phải hiểu rằng viện trợ Mỹ được căn cứ trên nguyên tắc là Chính
phủ Việt Nam Cộng Hòa có quyền chi tiêu cho những dự án cần thiết mà
không chịu sự kiểm soát của Chính phủ Hoa Kỳ. Nhưng thực tế cho thấy
Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa chỉ nhận được một phần rất nhỏ viện trợ Mỹ
mà không biết gì đối với số còn lại. Người Mỹ lấy lý do số còn lại được
chi tiêu cho những công cuộc không trực tiếp liên hệ đến Chính phủ Việt
Nam Cộng Hòa, chẳng hạn những hoạt động tuyên truyền do Cơ quan Thông
tin Hoa Kỳ điều khiển (US lNFORMATION AGENCY), để yểm trợ cho Chính phủ
Nam Việt Nam.
Có những ngân khoản trên giấy tờ thì do chính quyền Việt Nam sử dụng,
nhưng trên thực tế, chính quyền Việt Nam lại không có quyền dòm ngó tới
số tiền đó. Sự kiện này cho phép Chính phủ Hoa Kỳ đem hết khả năng tuyên
truyền phá hoại, chống lại Chính phủ Ngô Đình Diệm và lật đổ Chính phủ
này do chính số tiền viện trợ mà ông Diệm bị coi như mắc nợ đối với với
Hoa Kỳ.
Viện trợ Mỹ cho Việt Nam Cộng Hòa còn bao gồm cả các loại vũ khí cùng
sự tài trợ cho những hoạt động quân sự, đài thọ cho Lực lượng đặc biệt.
Mặt khác, Hoa Kỳ cũng trích ra từ ngân khoản viện trợ một số tiền 24
triệu đô-la để yểm trợ cho những phong trào chống lại Chính phủ. Như thế
đủ thấy số tiền viện trợ Mỹ mà Chính phủ Ngô Đình Diệm nhận được trên
giấy tờ, không ít thì nhiều, đã được dùng để thỏa mãn trước hết các
khuynh hướng quân phiệt cũng như khuynh hướng phá hoại trong sự giành
giật ảnh hưởng của Mỹ trên thế giới.
Về chương trình Ấp chiến lược trước khi nhận viện trợ Mỹ, chính chúng
tôi đã đưa ra điều kiện là Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa có thể thực hiện
một mình, nhưng Hoa Kỳ lại đòi quyền kiểm soát và duyệt xét chặt chẽ.
Hơn thế, họ còn đòi xen vào làm việc ngân sách quốc gia Việt Nam, song
chúng tôi đã không chịu để người Mỹ kiểm soát như vậy...”
Theo bà Ngô Đình Nhu, ngân khoản chính thức mà Chính phủ Ngô Đình Diệm
nhận được do Mỹ viện trợ trong suốt 9 năm của Đệ nhất Cộng hoàa, chỉ vào
khoảng hai tỷ đô-la mà thôi, không như ngày nay, chỉ trong vòng một
năm, ngân khoản đã lên đến 15 tỷ cho riêng nỗ lực chiến tranh.
Những tiết lộ trên đây cho thấy các chính quyền thuộc đảng Dân chủ Mỹ,
từ thời Tổng thống Truman qua đời Tổng thống Kennedy, đều có khuynh
hướng muốn để Hoa Kỳ trực tiếp liên hệ vào chiến tranh Việt Nam. Vì
khuynh hướng đó mà khi thấy không thể thuyết phục Tổng thống Ngô Đình
Diệm tiếp tay trong việc mở rộng và leo thang chiến tranh, Tổng thống
Kennedy đã hạ lệnh cho Đại sứ Henry Cabot Lodge phải bằng mọi cách,
triệt hạ kỳ được chính quyền này, “dù phải làm cỏ cả Phủ tổng thống”.
Việc lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm, tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ
tiết lộ rằng “Tổng thống Kennedy quyết định cử Phó tổng thống Johnson đi
Sài gòn vào tháng 5-1961 với sứ mạng thuyết phục ông Ngô Đình Diệm yêu
cầu Hoa Kỳ gửi quân qua Việt Nam, nhưng bị ông Ngô Đình Diệm trả lời là
ông không muốn lực lượng ngoại quốc vào lãnh thổ Việt Nam trừ trường hợp
Bắc Việt trực tiếp xâm lăng. Tổng thống Diệm nhấn mạnh: “Sự hiện diện
của quân đội ngoại quốc sẽ vì phạm thỏa ước quốc tế Geneve 1954”.
Vì không thuyết phục được Tổng thống Ngô Đình Diệm trong việc để quân
đội Mỹ qua Việt Nam nên Hoa Kỳ “khuyến khích nhóm đảo chính chống lại
cho tới cùng và hủy diệt Phủ tổng thống nếu cần để chiến thắng” và “buộc
gia đình ông Ngô Đình Diệm phải đầu hàng vô điều kiện”. Riêng ông Diệm
phải được đối xử tùy theo ý muốn của tướng lĩnh Việt Nam Cộng Hòa”
(trích bản giác thư của Roger Hilstman, Phụ tá Ngoại trưởng Hoa Kỳ, phụ
trách Viến Đông sự vụ gửi cho Ngoại trưởng Dean Rusk ngày 30-8-1963).
Thực ra trong cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ tháng 11-1960, anh em ông
Ngô Đình Diệm đã đoán biết số phận của mình khi ứng cử viên John F.
Kennedy thuộc đảng Dân chủ đắc cử sít sao so với số phiếu bỏ cho ứng cử
viên Cộng hòa Richard Nixon, vì đường lối của đảng Dân chủ thường biểu
lộ tính cách quân phiệt, cứng rắn, và chỉ muốn Hoa Kỳ trực tiếp liên hệ
vào chiến tranh Việt Nam.
Nên nhớ giải pháp Ngô Đình Diệm là sản phẩm của đảng Cộng Hòa dưới thời
Tổng thống Eisenhower, và từ tháng 7-1954 là ngày ông Ngô Đình Diệm về
nước chấp chánh tới tháng Giêng 1961 là ngày ông John F. Kennedy lên
lãnh đạo Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, mối bang giao giữa Việt Nam Cộng Hòa và
Mỹ quốc tuy cũng gặp trục trăc khó khăn, nhưng chưa đến nỗi nghiêm
trọng lắm.
Bởi thế, khi hay tin ứng cử viên đảng Dân chủ Kennedy trúng cử, anh em
ông Diệm đã tỏ vẻ buồn nản vì biết mình sẽ gặp lắm khó khăn, bèn vội vã
đề ra chính sách “thật lưng buộc bụng”, và định ban hành Luật hạ lương
quân nhân - công chức. Dự luật này do Dân biểu Cao văn Tường soạn thảo,
đã một dạo gây hoang mang thắc mắc trong hàng ngũ công chức - quân nhân,
nhưng cuối cùng chẳng hiểu vì sao mà không được áp dụng.
Lo sợ trước chính sách mới của tân Tổng thống Hoa Kỳ đã đến với Tổng
thống Ngô Đình Diệm sớm hơn ý tưởng, vì 5 tháng sau ngày lễ tuyên thệ
nhậm chức, Tổng thống Kennedy đã dồn dập làm áp lực, và cuối cùng đi đến
cuộc đảo chính, giết chết anh em ông Diệm ngày 1-11-1963.
Triệt hạ xong Tổng thống Ngô Đình Diệm, chưa ai biết ý định Tổng thống
Kennedy sẽ làm gì ở Việt Nam, vì ông bị ám sát chết ngay sau đó ba tuần
lễ (Kennedy bị ám sát chết ngày 23-11-1963 tại thành phố Dallas, Tiểu
bang Texas), nhưng theo tin AFP đánh đi ngày 25-1-1971 thì “chỉ vài
tiếng đồng hồ sau khi xảy ra vụ ám sát Tổng thống Kennedy, và ngay khi
còn đang ở trên phi cơ trở về Hoa Thịnh Đốn để đảm nhiệm chức vụ Tổng
thống theo hiến pháp, ông Lyndon Johnson đã quyết định tiếp tục theo
đuổi chính sách của vị tiền nhiệm”.
Tiếp tục theo đuổi chính sách của vị tiền nhiệm có nghĩa là Tổng thống
Johson thừa hưởng gia tài về đường lối lãnh đạo chiến tranh do cố Tổng
thống Kennedy để lại, và chỉ tám tháng sau ngày nhận chức vụ, Tổng thống
Johnson đã biến đổi hình thái chiến tranh đó bằng cách tạo ra cái gọi
là “biến cố Vịnh Bắc Việt” rồi ra lệnh cho Không lực Hoa Kỳ oanh tạc
miền Bắc và ra lệnh cho bộ binh nhảy vào tham chiến tại miền Nam.
Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ được báo Newsweek đăng tải, nói
rằng “Tất cả những quyết định quan trọng nhằm leo thang chiến tranh Việt
Nam đều được dự trù từ nhiều tháng trứoc khi Tổng thống Johnson đem ra
thi hành và Chính phủ Mỹ lừa phỉnh Quốc hội cùng với quần chúng bằng
cách bưng bít. Những gì xảy ra trong Biến cố Vịnh Bắc Việt ngày 4-8-1964
không đáng kể, vì Chính phủ đã bí mật thảo hoạch một hành động quân sự
quan trọng đánh Bắc Việt trước đó ít nhất là năm tháng, và đã dự thảo
sẵn một quyết nghị của Quốc hội nhằm ủng hộ mở rộng chiến tranh”.
Biến cố Vịnh Bắc Việt hồi tháng 8-1964 phải được kể là một điểm then
chốt trong chiến tranh Việt Nam hiện nay, vì nó là khởi thủy cho cuộc
oanh tạc đầu tiên của Không lực Hoa Kỳ xuống lãnh thổ Bắc Việt ngày
5-8-1964, rồi từ cuộc oanh tạc này đẻ ra nguyên nhân khiến Mỹ đưa nửa
triệu quân cơ giới vào miền Nam Việt Nam, với sự tham chiến của nhiều
nước Đồng minh Hoa Kỳ như Đài Loan, Úc, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân và
Thái Lan, làm cho chiến tranh Việt Nam mở rộng và leo thang.
Thực ra cho đến nay, cái gọi là “biến cố Vịnh Bắc Việt” vẫn hãy còn mù
mờ, mỗi bên nói một cách, mỗi người dự đoán một nẻo, còn tin tức thì
trái ngược và mâu thuẫn.
Theo Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ thì ngày 4-8-1964, lợi dụng sương mù dầy đặc,
các tiểu đỉnh Bắc Việt đã xông ra tấn công Đệ thất hạm đội đang hoạt
động ngoài khơi vịnh Bắc Việt, làm chiếc khu trục hạm Maddox bị thương
và vài chiếc khác bị hư hại.
Chính phủ Hoa Kỳ coi hành động này của Bắc Việt có tính cách khiêu
khích nghiêm trọng, cần phải trừng trị, nên sáng 5-8-1964, nhiều phi cơ
thuộc Không lực Mỹ, cất cánh từ các Hàng không mẫu hạm, xông vào lãnh
thổ Bắc Việt oanh tạc dữ dội.
Trước biến cố “Vịnh Bắc Việt”, một áp lực quốc tế đè nặng lên vấn đề
Đông Dương. Pháp, Nga Sô, Trung Cộng và cả Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc
U-Thant nữa đều đưa ra một đề nghị triệu tập một hội nghị như hội nghị
Geneve về Việt Nam hồi 1954 để bàn về việc trung lập hóa toàn bán đảo
Đông Dương.
Đề nghị này trước tiên là sản phẩm của tướng De Gaulle, Tổng thống
Pháp. De Gaulle vẫn luôn luôn nuôi mộng được trở lại với những quyền lợi
to tát của nước Pháp ở Đông Dương vốn bị Mỹ dùng thế lực tước đoạt sau
ngày thất trận Điện Biên Phủ, nên cho rằng nếu toàn cõi Đông Dương trung
lập thì có nghĩa là Hoa Kỳ sẽ mất nhiều ảnh hưởng, và Pháp lại có hy
vọng đóng một vai trò quan trọng Á Đông.
Sau khi tướng De Gaulle nêu đề nghị trên thì ngày 14-7-1964 Nga Sô liên
lạc với 14 quốc gia từng tham dự hội nghị Geneve và Ai Lao năm 1962,
nêu rõ lập trường nước Pháp và tiếp đến là sự tán đồng của Hà Nội biết
Mặt trận giải phóng miền nam Việt Nam.
Trước sự vận động quốc tế như vậy, Hoa Kỳ tất nhiên phải khẩn cấp trực
tiếp liên hệ vào chiến tranh Việt Nam, vì nếu không, Chính phủ Nguyễn
Khánh tại Sài gòn sẽ sụp đổ nhanh chóng, và kế hoạch rộng lớn của Mỹ tại
châu Á sẽ gặp lắm trở ngại, khó thực hiện.
Với biến cố Vịnh Bắc Việt, Hoa Kỳ đã bẻ gẫy âm mưu của tướng De Gaulle
và của Nga Sô nhằm trung lập hoa Đông Dương, vì trung lập như vậy không
phải chỉ để giết chết Nam Việt Nam mà còn làm thiệt hại nặng nề đến
quyền lợi Hoa Kỳ khắp vùng Đông Nam Á.
Đông Nam Á là vùng tranh chấp ảnh hưởng giữa các nước đế quốc tư bản
châu Âu từ thế kỷ thứ 18, và sau trận chiến tranh thế giới II, chỉ còn
lại ba khối lớn, Hoa Kỳ-Nga Sô-Trung Cộng. Còn Pháp, vì nuối tiếc quyền
lại cũ, nên luôn luôn đứng ngoài phá rồi bằng cách xúi nguyên giục bị và
thọc gậy bánh xe. Về phần Hoa Kỳ, vì nước họ quá giầu mạnh lại phát
triển hết sức mau, nên vấn đề mở rộng vòng đai an ninh và tìm kiếm thêm
nhiều thị trường là tối cần thiết.
Khi nói đến nền an ninh Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ thì phải hiểu rằng nó
liên hệ đến nền an ninh chung toàn thế giới, nếu tình hình châu Âu hay
châu Á sôi động thì có nghĩa là Hoa Kỳ cũng bị trực tiếp đe dọa, vì với
những phát minh kỳ diệu của nền khoa học hiện đại, một hoa tiễn liên lục
địa mang đầu đạn nguyên tử có thể bắn từ Thái Bình Dương bên này qua
Thái Bình Dương bên kia, rơi tới tấp xuống lãnh thổ nước Mỹ. Việc Hoa Kỳ
phóng vệ tinh do thám bay thường xuyên trên bầu trời Trung Cộng - Nga
Sô, cũng như việc phái Đệ thất hạm đội với tầu ngầm nguyên tử sang hoạt
động vùng Viễn Đông là nhằm bảo vệ nền an ninh Hoa Kỳ khỏi bị một cuộc
tấn công bất ngờ.
Vi khoa học tiến bộ quá mau lẹ, nên chẳng những Hoa Kỳ mà Nga Sô cũng
phóng vệ tinh do thám, còn Trung Cộng thì chế tạo được bom nguyên tử và
hỏa tiễn liên lục địa mang đầu đạn nguyên tử. Bởi thế, sự hiện diện của
quân đội Mỹ với các căn cứ quân sự trọng yếu ở Đông Nam Á là điều bắt
buộc dù Mỹ có thể bị thế giới kết án là đang theo đuổi chính sách “tân
đế quốc thực dân”.
Ngoài việc bảo vệ an ninh cho mình, Hoa Kỳ còn nhằm mục đích khác ở
Đông Nam Á là bành trướng ảnh hưởng, tìm kiếm thị trường. Muốn biết mục
đích này quan trọng như thế nào, chúng ta hãy tìm hiểu sơ qua sức phát
triển mãnh liệt của dân tộc Mỹ.
Hoa Kỳ có một lịch sử lập quốc khoảng trên 300 năm. Hiến pháp được soạn
ra từ 1787 với 13 tiểu bang, nhưng chưa đầy 200 năm sau, số tiểu bang
nhảy vọt lên 50, song chưa phải là hết mà người ta còn tiên đoán rằng
càng ngày, trên quốc kỳ Hoa Kỳ còn gắn thêm nhiều ngôi sao, mỗi ngôi sao
tiêu biểu cho một tiểu bang, và rất có thể này mai, Phi Luật Tân sẽ là
tiểu bang thứ 51 của Mỹ, vì tại xứ này đang có một phong trào vận động
để dân tộc Phi được hương cái “vinh dự” đó.
Về kinh tế, tuy Hoa Kỳ cũng từng gặp những cơn khủng hoảng đến phải đổ
đồ thặng dư xuống biển, vì không có thị trường tiêu thụ, nhưng luôn luôn
vẫn là một nước dẫn đầu về tích trữ vàng, nhờ thế mà đồng đô-la giữ
vững giá, ngay cả trong thời kỳ thế giới gặp đại chiến.
Nên biết rằng Hoa Kỳ là xứ rất nhiều kim loại và khoáng chất, họ sản
xuất hàng năm khoảng 70 triệu tấn sắt dùng cho các ngành kỹ nghệ sản
xuất. Đa phần từ số kim loại khai thác được là ở vùng Lake Superior, và
không kể những kim loại tốt đang khai thác, số kim loại xấu, chưa đến
tuổi, còn nằm sau dưới đất, có thể khai thác hàng trăm năm cũng chưa
hết.
Ngoài sắt, thép là mỏ than. Than đá là tài nguyên quan trọng thứ hai tại Hoa Kỳ, số dự trữ có thể dùng cả hàng ngàn năm sau.
Ngoài than đá là dầu lửa, các giếng dầu ở Hoa Kỳ sản xuất hàng năm
chừng 400 ngàn triệu lít. Ngoài ra, Hoa Kỳ còn có một khoáng chất hết
sức quý, chính khoáng chất này đã đưa Hoa Kỳ lên địa vị siêu cường quốc
nguyên tử hiện nay. Đó là mỏ Uranium.
Vì thiếu kim loại và khoáng chất như vậy nên xu hướng phát triển của
Hoa Kỳ là kỹ nghệ nặng, trong đó, khoảng 80% là kỹ nghệ quốc phòng.
Theo những tài liệu gần đây của Phòng Liên vụ thông tin Hoa Kỳ thì từ
1955, chi tiêu của Chính phủ Liên bang được dùng vào việc quốc phòng là
hai phần ba (2/3). Phần vòn lại được chi tiêu vào các công cuộc an lạc
công cộng, phát triển các tài nguyên về đất đai, y tế, giáo dục v.v...
Nước Mỹ giàu đương nhiên dân Mỹ có lợi tức cao nhất thế giới, đa số
người Mỹ có lợi tức hàng năm hai ngàn đô-la (hơn một triệu bạc Việt Nam)
cho mỗi người, và lợi lức trung bình hàng năm cho mỗi quyết định chừng
sáu ngàn rưởi đô-la (trên bốn triệu đồng Việt Nam). Lợi tức trung bình
này không phải nằm yên một chỗ nữa cứ mỗi năm một tăng và Chính phủ Hoa
Kỳ dự trù rằng qua năm 1980, lợi tức đó sẽ gần gấp đôi hiện tại.
Hiện tại ở Mỹ, cứ 6 gia đình thì một gia đình được coi là nghèo, nhưng
nghèo ở đây là theo tiêu chuẩn của Chính phủ Mỹ, nghĩa là gia đình nào
có lợi tức trung binh hàng năm khoảng ba ngàn đô-la thì bị coi là nghèo
(ba ngàn đô-la gần bằng hai triệu rưỡi bạc VN theo giá bây giờ). Nghèo
theo tiêu chuẩn này thì tại Việt Nam Cộng Hòa, tất cả các Tổng, Bộ
trưởng nếu sống hoàn toàn vào đồng lương thuần tuý, đều bị liệt vào hạng
nghèo hết.
Căn cứ vào những bản thống kê thì mỗi người Mỹ chỉ cần làm việc 5 phút
là mua được nửa ký bánh mì, làm 2 phút mua được một ký khoai, làm 12
phút mua được nửa ký thịt bò, làm 8 phút mua được nửa ký bơ, làm 6 phút
mua được một lít sữa, làm 7 giờ mua được một đôi giầy bằng da thật tốt;
và làm 20 giờ mua được một bộ y phục bằng len.
Sự giầu mạnh của nước Mỹ; sự sung túc của dân chúng là nhờ vào tài
nguyên quốc gia quá dồi dào và nhờ vào sức cần cù cùng óc tính toán khoa
học của họ, khi Mỹ đã giầu thì dĩ nhiên Mỹ phải tìm đủ cách bành trướng
mãnh liệt khắp năm châu thế giới. Vậy thì chúng ta không nên lấy làm lạ
tại sao Việt Nam là một xứ nghèo nên? chẳng mang lại lợi lộc gì cho
nước Mỹ, thế mà Chính phủ Mỹ vẫn đổ người, đổ của vào đây. Hiểu nước Mỹ
và hiểu người Mỹ sơ qua như vậy tức là hiểu được lý do của vấn đề.
Vì những sự việc như thế nên bắt buộc Hoa Kỳ phải tìm đủ mọi cách liên
hệ vào chiến tranh Việt Nam. Sự liên hệ này, những phiến diện bề ngoài,
những kẻ không hiểu cặn kẽ vấn đề cứ tưởng Hoa Kỳ đang sa lấy.
Sự liên hệ của Hoa Kỳ vào chiến tranh Việt Nam nặng nề nhất là thời
Tổng thống Johnson. Người lãnh đạo Hoa Kỳ gốc Texas này có một chính
sách làm cho chính trường miền Nam Việt Nam rối loạn cả lên nào đảo
chính, chỉnh lý, nào Công giáo - Phật giáo đâm chém nhau tại bùng binh
chợ Bến Thành, nào vụ Hiến chương Vũng Tàu của tướng Nguyễn Khánh, nào
phong trào Phật giáo tranh đấu ở miền Trung v.v... Nguy hiểm nhất biến
cố Tết Mậu Thân 1968.
Trong khi tình hình miền Nam rối loạn thì Không lực Mỹ không ngớt oanh
tạc miền Bắc, và bộ binh cơ giới Mỹ cứ hết đợt này đến đợt khác đổ vào
miền Nam, lên tới con số trên nửa triệu người. Thế là chiến tranh mở
rộng và leo thang.
Khi mở rộng và leo thang chiến tranh như vậy Hoa Kỳ nói rằng đó là nhằm
bảo vệ miền Nam Việt Nam khỏi rơi vào tay Cộng sản: nhưng theo giác thư
của Thứ trưởng Quốc phòng John Mc Nanghton gửi Bộ trưởng McNamara “Mục
tiêu của cuộc chiến tranh ở Việt Nam gồm 70 phần trăm nhằm tránh một sự
thảm bại nhục nhã cho Hoa Kỳ, 20 phấn trăm để giữ miền Nam Việt Nam khỏi
rơi vào tay Cộng sản Trung Hoa, và chỉ 10 phần trăm cốt để nhân dân
miền Nam được hưởng một đời sống tốt đẹp hơn, tự do hơn”.
Nhân dân miền Nam Việt Nam có được hưởng một đời sống tốt đẹp hơn từ
ngày Mỹ đổ nửa triệu quân vào hay không thì thực tế đã trả lời. Riêng
miền Bắc, kể từ tháng 2-1965 đến tháng 6-1968 đã phải hứng chịu
2.581.876 tấn bom do 107.700 phi xuất của Không lực Mỹ dội xuống. Những
vụ oanh tạc khủng khiếp này chỉ được tạm chấm dứt từ 1-11-1968 vì nhu
cầu bầu cử bên Mỹ.
Bởi liên hệ quá sâu xa như vậy nên năm 1969, khi nhậm chức Tổng thống
Hiệp Chủng Quốc, ông Richard Nixon đã đề ra chính sách Việt hóa và công
bố lịch trình rút quân. Với lịch trình này, Tổng thống Nixon đã hạ thấp
con số từ trên 500 ngàn xuống còn 29 ngàn, nhưng thay vì chiến tranh
chấm dứt thì nó lại bước vào một khuc quanh mới và bùng lên mãnh liệt
bởi cuối tháng 3-1972, khi Bắc Việt bất thấn xua quân vượt tuyến, dùng
lối đánh quy ước tấn công vào các lực lượng Việt Nam Cộng Hòa ở hai tỉnh
địa đầu giới tuyến Quảng Trị - Thừa Thiên, sau đó lan rộng ở An Lộc,
Kontum, Bình Định và ở cá Ai Lao - Kampuchea
Chương 7

hiến tranh Việt Nam hiện nay là do sự cấu tạo của một quá trình như đã
dẫn giải ở các chương đầu thì nhiều người đã lầm, tưởng rằng, Hoa Kỳ chỉ
mới liên hệ vào khoảng từ 1965, khi Tổng thống Johnson quyết định đưa
nửa triệu quân cơ giới vào miền Nam Việt Nam, và sau đó mở rộng ra Bắc
bằng những cuộc oanh tạc.
Sự thực Hoa Kỳ đã liên hệ tới chiến tranh Việt Nam từ 1944, khi quyết
định phái một số nhân viên tình báo trong đó có trung tá Lucien Conein,
người từng trực tiếp tham gia cuộc đảo chính chế độ Ngô Đình Diệm
1-11-1963, nhảy dù xuống chiến khu Việt Bắc, giúp Việt Minh tổ chức lực
lượng kháng chiến chống Nhật; sau đó lại cho không quân bỏ bom các cơ sở
Nhật trên toàn cõi Đông Dương. Việc một số sĩ quan tình báo Hoa Kỳ nhảy
dù xuống chiến khu Việt Bắc hồi 1944 thì tài liệu mật Quốc phòng Mỹ bị
tiết lộ năm 1971 có đề cập tới, và chính Việt Minh, năm 1945 cũng cho in
nhiều truyền đơn, bích chương, ghi rõ những địa điểm mà các sĩ quan
tình báo Hoa Kỳ đã nhảy xuống.
Tuy giúp Việt Minh tổ chức du kích quân chống Nhật, như khi Nhật đầu
hàng thì Hoa Kỳ lại mặc nhiên để quân đội Pháp theo gót quân đội Anh, đổ
bộ Sài gòn, gây nên cuộc chiến tranh Việt-Pháp.
Khi cuộc chiến tranh Việt-Pháp trở thành toàn diện thì Hoa Kỳ lại triệt
để giúp Pháp bằng cách viện trợ tiền bạc, vũ khí, cơ giới, và có khi cả
sĩ quan tham mưu nữa.
Trong những năm đầu của cuộc chiến tranh Việt-Pháp, vì Hoa Kỳ đang mắc
kẹt ở Trung Hoa về cuộc nội chiến Quốc-Cộng, và đang lo đối phó trước
việc Hồng quân Nga Sô tiếp tục kéo vào vùng Đông bắc nước Tàu, giành hết
quyền lợi kinh tế, nên Hoa Kỳ chưa rảnh tay giúp Pháp được gì; vả lại
hồi này Hoa Kỳ chẳng cần giúp thì Pháp cũng làm chủ tình hình, bởi vì
lực lượng kháng chiến hãy còn quá yếu, chỉ có giáo mác, gậy tầm vông,
một số súng ống cũ kỹ và lựu đạn. Đằng khác, lúc bấy giờ miền Nam.Trung
Hoa sát nách Bắc Việt đang do Tưởng Giới Thạch kiểm soát, Trung Cộng hãy
còn ở tận miền Bắc xa xôi, nên dù có muốn giúp kháng chiến Việt Nam
cũng không đủ phương tiện; còn Nga Sô đang mải chạy đua với Mỹ ở Đong
Âu, ở Mãn Châu nên cũng chưa nghí tới vấn đề viện trợ cho kháng chiến
Việt-Nam. Mãi từ 1950, sau khi Trung Cộng đã kiểm soát toàn thể Hoa lục,
Tưởng Giới Thạch phải chạy ra đảo Đài Loan, Hoa Kỳ mới bắt đầu quân
viện cho Pháp, và võ trang binh sĩ quân đội quốc gia Việt Nam vừa được
thành lập.
Viện trợ của Mỹ cho Pháp hồi bấy giờ cũng chẳng lấy gì làm nhiều, vì
sau khi rút ra khỏi Hoa Lục, Mỹ lại vướng vào chiến tranh Triều Tiên -
một cuộc chiến tuy ngắn (từ 25-6-1950 đến cuối 1953) những vô cùng dữ
dội, khiến Mỹ phải kêu gọi đến quân đội Liên hiệp quốc giúp sức.
Theo tin tức hồi bấy giờ thì bước qua năm 1950, cuộc chiến tranh
Việt-Pháp, vì bị ảnh hưởng trực tiếp trước việc Cộng sản Trung Hoa thôn
tính Đại lục, mục đích bắt đầu trở nên sôi động, khiến Pháp phải tạm gạt
bỏ mối nghi ngờ để nhờ Mỹ giúp sức.
Và cũng kể từ năm 1950, viện trợ của Mỹ cho Pháp ở Việt Nam mới thực sự
tích cực, rồi tuỳ theo mức độ chiến tranh mà gia tăng hàng năm.
Cứ nhìn vào một vài con số viện trợ Mỹ cho Pháp thì sẽ thấy mức độ
chiến tranh Việt Nam leo thang như thế nào. Chẳng hạn 1950, có hai
chuyến tầu Hoa Kỳ cập bến Sài gòn (ngày 11-8-1950 và ngày 28-10-1950),
chở sang giúp Pháp một số vũ khí và 40 phi cơ. Qua năm 1952, số tầu Hoa
Kỳ cập bến Sài gòn lên hàng trăm chuyến; và ngoài việc chở vũ khí, cơ
giới, phi cơ, tầu chiến sang giúp Pháp duy trì chiến tranh Việt Nam, Hoa
Kỳ còn bằng lòng cung viện cho Pháp một phần ba (1/3) chiến phí.
Hồi bấy giờ, viện trợ Mỹ cho Pháp để theo đuổi chiến tranh Việt Nam
được thế hiện dưới hai hình thức: Viện trợ cho quân đội viễn chinh Pháp
và viện trợ cho chính quyền Bảo Đại.
Viện trợ cho quân đội viễn chinh
Pháp gồm những thứ như trên vừa trình bày; còn viện trợ cho chính quyền
Bảo Đại thì gồm vũ khí trang bị cho quân đội Quốc gia đang được thành
lập, và tài trợ ngân sách hàng năm.
Việc tài trợ ngân sách hàng năm cho chính quyền Bảo Đại, trong niên
khóa 1951-1952 chỉ mới khoảng 25 triệu Mỹ kim, nhưng qua năm 1953 thì
tăng vọt lên, và nếu cộng chung với chiến phí ở Đông Dương thì vào
khoảng 785 triệu Mỹ kim.
Muốn có một nhận định rõ ràng về sự liên hệ Hoa Kỳ vào chiến tranh Việt
Nam, thiết tưởng chỉ cần đọc lại những tài liệu mật của Ngũ giác Đài bị
báo chí Mỹ phanh phui hồi tháng 6-1971.
Theo bản nghiên cứu có đính kèm tài liệu, dầy khoảng 3 ngàn trang, chứa
đựng chừng 2 triệu 500 ngàn chứ mà báo Mỹ NEW YORK TIMES đăng tải thì
quyết định của Chính phủ Truman viện trợ quân sự cho Pháp trong cuộc
chiến tranh thực dân của họ, đã làm cho Hoa Kỳ lần đầu tiên trực tiếp
dính líu vào vấn đề Việt Nam, và tạo nên một chính sách về Việt Nam của
Hoa Kỳ.
Sau Tổng thống Truman, Tổng thống Eisenhower đã có nhiều quyết định
quan trọng về chính sách đối với Việt Nam; tới thời Tổng thống Kennedy,
Hoa Kỳ càng dính líu sâu vào vấn đề Việt Nam, và khi Tổng thống Johnson
lên cầm quyền thì Hoa Kỳ đã tham chiến ở VN cả trên không lẫn dưới bộ.
Ellsbeng, người bị nghi ngờ là đã trao tài liệu mật của Ngũ giác Đài
cho báo chí đăng tải, trong một cuộc phỏng vấn do hệ thống vô tuyến
truyền hình CBS thực hiện ngày 23-6-1971, có tuyên bố rằng: “Người Mỹ
phải chịu trách nhiệm về bất cứ tử trận nào ở Đông Dương trong vòng 20
năm qua”.
Ellsbeng nhận định rằng “Chiến tranh Đông Dương là một cuộc chiến tranh
của Hoa Kỳ hơn là một cuộc chiến tranh của Đông Nam Á. Nếu Hoa Kỳ không
cung cấp tiền bạc, khí giới và cả nhân sự nữa thì ở Đông Nam Á chỉ có
thể xảy ra bạo động chứ không có chiến tranh”.
Nhận định trên đây của Ellsberg có một giá trị lịch sử vì bằng thực tế
và hoàn cảnh nước Pháp hồi 1945, không ai tin rằng họ đủ sức mở lại cuộc
chiến ở Đông Dương, bởi lẽ nó quá tốn kém, vượt xa mức chịu đựng của
một nước vừa mới thoát khỏi chiếm đóng của Đức, vì đã kiệt quệ trong
chiến tranh thế giới II, nếu không được Hoa Kỳ quân viện.
Thật vậy, theo những bản thống kê chính thức được Chính phủ Pháp công
bố thì kể từ 1946 đến 1954, Pháp đã phải chỉ tiêu cho chiến tranh Việt
Nam khoảng ngàn tỷ; trong số đó Hoa Kỳ gánh chịu giúp 615 tỷ; đó là chưa
kể những món tiền viện trợ lớn lao khác mà Hoa Kỳ đã bù đắp cho ngân
sách 3 nước iệt - Mên - Lào, và trang bị quân đội của các quốc gia này.
Về vũ khí, cơ giới, Hoa Kỳ đã giúp Pháp chừng 850 xe thiết giáp, 16
ngàn xe vận tải, 600 phi cơ, 10 ngàn máy truyền tin, và trên dưới 180
triệu viên đạn đủ loại.
Được quân viện của Mỹ lớn lao như vậy, theo lẽ, nếu Pháp không thắng
thì cũng chẳng đến nỗi thua đau; thế mà cuối cùng Pháp phải rời khỏi
Đông Dương, bỏ lại tất cả những quyền lợi mà cha ông đã tốn bao nhiêu
xương máu tạo lập trong suốt khoảng thời gian gần 100 năm. Đây là một
điểm đáng nghi ngờ của cuộc chiến tranh Việt - Pháp.
Căn cứ vào những diễn biến lịch sử và các tài liệu đã được phát giác,
người ta thấy nhận định của Ellsbeng thật chính xác khi nói rằng người
Mỹ phải chịu trách nhiệm về bất cứ trận nào ở Đông Dương trong vòng 20
năm qua. Như thế có nghĩa là cuộc chiến tranh Việt-Pháp cũng do Mỹ châm
ngòi và thúc đẩy.
Muốn hiểu rõ hành động này, thiết tưởng cần phải phớt qua chút ít lịch
sử Hoa Kỳ - một lịch sử mà người Mỹ bảo rằng chỉ có chiến thắng chứ chưa
bao giờ chiến bại.
Hoa Kỳ là một tân thế giới, sinh sau đẻ muộn hơn ai hết, nhưng lại giàu mạnh vào bậc nhất hoàn cấu.
So với các đế quốc tư bản châu Âu, Hoa Kỳ tuy có một lịch sử lập quốc
còn qua trẻ, chỉ mới khoảng 300 năm, những sức bành trướng lại vượt khâ
xa, không một đế quốc tư bản châu Âu nào sánh kịp.
Điều hiển nhiên là trong khi các đế quốc tư bản châu Âu dùng võ lực xâm
chiếm nước ngoài thì Hoa Kỳ chỉ lo phát triển kinh tế, trước hết nhằm
vào châu Mỹ La tinh.
Châu Mỹ La tinh nằm sát nách Hoa Kỳ, những từ xưa vốn là thuộc địa của
các đế quốc tư bản châu Âu. Muốn đánh đuổi thế lực này, Hoa Kỳ đề ra chủ
thuyết châu Mỹ của người châu Mỹ. Chủ thuyết này cũng tương tự như chủ
thuyết da vàng mà Mao Trạch Đông đang theo đuổi, hoặc chủ thuyết châu Á
của người châu Á do Nhật tung ra hồi chiến tranh thế giới II.
Với chủ thuyết này, Hoa Kỳ ngấm ngầm tài trợ kinh tế cho các nước châu
Mỹ, hối thúc quần chúng vác nước châu Mỹ đứng lên đòi độc lập, và kết
quả là dần dà Hoa Kỳ trở thành chủ nhân ông, còn những nước đế quốc tư
bản châu Âu thì cuốn gói.
Nội một Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, tài nguyên đã vô cùng phong phú, huống
hồ nay gồm thâu cả châu Mỹ La tinh thì sức phát triển kinh tế của Hoa Kỳ
mạnh đến bậc nào.
Kinh tế phát triển thì phải có thị trường tiêu thụ, nếu không thì sẽ
lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, hàng hóa thặng sư, sản xuất ứ
đọng.
Khắp năm châu thế giới, chỉ có thị trường châu Á là tốt nhất, vì ở đây
đất rộng người nhiều, lại đang trong tình trạng bán khai; nhưng muốn
chen chân vào châu Á không phải chuyện dễ, bởi từ lâu, nó cũng là thuộc
địa của nhiều nước tư bản châu Âu.
Nếu muốn chen chân vào thị trường châu Á, Hoa Kỳ cần phải chọn lựa giữa
hai hình thức: hoặc dùng võ lực gây chiến với các nước đế quốc tư bản
châu Âu, hoặc dùng thế lực đồng đo-la để gây mâu thuẫn.
Tự mình gây chiến với các nước tư bản châu Âu là điều Hoa Kỳ không thể
làm, vì thứ nhất, mãnh hổ nan quần hổ; thứ hai, nền an ninh châu Âu có
liên quan trực tiếp tới nên an ninh của Hoa Kỳ. Vậy tốt hơn hết là dùng
đồng tiền chơi trò thọc gậy bánh xe.
Người ta bảo hai con chó khó có thể gặm chung một khúc xương mà không
gây chuyện cắn xé nhau. Điều này, nếu được ví vào các nước đế quốc hẳn
thật đúng.
Từ cuối thế kỷ thứ 18, nhiều nước tư bản châu Âu đã phát triển mạnh;
qua thế kỷ thứ 19 thì chủ nghĩa tư bản châu Âu đã bước sang quá trình
chủ nghĩa thực dân đế quốc, và khi nước nào cũng lo cất quân xâm chiếm
thuộc địa thì tất nhiên không thể tránh được chuyện va chạm. Trận chiến
tranh thế giới I 1914-1928 là kết quả của những va chạm đó.
Trận chiến tranh thế giới I kết thúc, làm cho nhiều nền tảng các nước
thực dân đế quốc lung lay, và phát sinh ra nhiều mâu thuẫn sâu sắc từ Âu
sang Á, những mâu thuẫn này được nuôi dưỡng và âm ỉ cho tới ngày chiến
tranh thế giới II mở màn.
Nếu kết quả trận chiến tranh thế giới I, các nước thực dân tư bản châu
Âu chỉ mới lung lay, thì sau chiến tranh thế giới II, tất cả đều hoàn
toàn sụp đổ.
Sự kiện này mang lại cho thế giới một khúc quanh quan trọng, và chia thành hai vùng ảnh hưởng khác nhau.
Chủ thuyết Cộng sản đề cao hiện tượng ngâu nhiên mà có loài người chứ
không do Thượng đế dùng bùn đất nặn lên ông Adam và bà Eva. Nhưng nhất
định chiến tranh không phải ngẫu nhiên mà phát sinh. Cứ nhìn vào hai
cuộc chiến tranh thế giới từ lúc khơi mào cho đến kết thúc, người sẽ
thấy đó là hậu quả của sự phát triển không đồng đều giữa các đế quốc tư
bản, khiến đi đến chỗ tranh giành, và định luật “mạnh được - yếu thua”
là định luật bất đi bất địch.
Trong chiến tranh thế giới II hai nước mạnh nhất hoàn cầu là Hoa Kỳ và
Nga Sô kết tình đồng minh với nhau; tất cả các quốc gia khác đều phải
xoay chung quanh quỹ đạo của hai nước khổng lồ này, và khi chiến tranh
thế giới II chấm dứt thì kết quả là Nga và Mỹ chia đôi thế giới thành ba
khối riêng biệt.
Nhờ kết quả hai cuộc chiến tranh thế giới I và II mà Hoa Kỳ đã trở
thành quốc gia lãnh đạo, bao nhiêu thuộc địa có ở châu Á của các nước tư
bản đế quốc châu Âu đều gom thâu vào tay Hoa Kỳ, biến Hoa Kỳ thành một
siêu cường mà hiện thời không một quốc gia nào địch nổi.
Trong cái may bao giờ cũng gặp cái rủi. Cái rủi của Hoa Kỳ sau trận
chiến tranh thế giới II là chủ nghĩa Cộng sản sinh sôi nảy nở tại nhiều
nơi, kể cả châu Mỹ La tinh.
Tại Đông Âu, lợi dụng dịp tiến quân tiêu diệt Đức Quốc Xã, Nga Sô thiết
lập chính quyền Cộng sản tại một số quốc gia như Ba Lan, Tiệp Khắc,
Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi v.v... Còn tại châu Á thì Hồng quân Trung Hoa
lớn mạnh, thôn tính cả Lục địa, và đang có xu hướng đi đến chủ thuyết da
vàng, nghĩa là muốn giải phóng toàn cõi châu Á khỏi sự kìm kẹp cùng ảnh
hưởng của người da trắng.
Trước mắt người Mỹ và người Tây phương, bao giờ châu Á cũng là vùng thị
trường quan trọng nhất. Mất hẳn châu Á, có nghĩa là từ bản xhâu Âu đang
bước vào thời kỳ dẫy chết.
Cũng là Cộng sản cả nhưng Cộng sản châu Á - đặc biệt Cộng sản Trung Hoa
-mới thật đáng sợ. Đây là thứ Cộng sản pha trộn nhiều ý thức hệ, vừa
cực đoạa, vừa quá khích và tiến bộ trong tình trạng lạc hậu.
Sợ dĩ Cộng sản châu Á mà tiêu biểu là Cộng sản Trung Hoa, mang nhiều
sắc thái như vậy, trước hết là vì từ xưa tới nay, họ đã chịu quá nhiều
cơ cực do sự cai trị tàn khốc của người da trắng gây ra. Càng bị áp bức
nhiều chừng nào thì sức đề kháng càng mãnh liệt chừng ấy. Đó là lẽ đương
nhiên.
Thứ đến, đa số quốc gia châu Á là những xứ nông nghiệp chậm tiến; tổ
chức xã hội lại lạc hậu phong kiến, nên chủ nghĩa Cộng sản có cơ phát
triển mạnh hơn những nước kỹ nghệ châu Âu; vì thế, hễ họ cướp chính
quyền ở nơi nào là họ thẳng tay phát động phong trào quần chúng đấu
tranh cao độ ngày nơi ấy, không nể nang, không nhân nhượng một quyền lợi
nào cho người da trắng.
Kinh nghiệm cuộc nội chiến Quốc - Cộng Trung Hoa là một bài học hết sức
đau đầu cho Hoa Kỳ. Nơi đây, ngay sau khi chiến tranh thế giới II kết
thúc, Hoa Kỳ đã thi hành một chính sách tỏ ra thiếu khôn ngoan với nhiều
sai lầm nghiêm trọng mà hậu quả còn di hại đến ngày nay, trong Chiến
tranh Việt Nam.
Nhầm lẫn quan trọng nhất của Hoa Kỳ hồi đó là không hiểu người Trung
Hoa, không hiểu sự khác biệt giữa Cộng sản Trung Hoa và Cộng sản châu
Âu, cứ tưởng rằng Trung Hoa nghèo nàn, hễ viện trợ nhiều tiền là thu
phục được.
Nói cho đúng, chính sách của Mỹ áp dụng ở Trung Hoa đã sai lầm từ căn
bản. Hồi Trung Hoa bị Nhật chiếm đóng, Hoa Kỳ đã nhiều lần dùng áp lực
buộc Chính phủ Quốc gia đi theo đường lối “dung Cộng kháng Nhật” và đưa
ra những nguyên tắc Liên hiệp, để các lộ quân Cộng sản sát nhập vào quân
đội Trung Hoa Quốc Gia.
Nhờ những cuộc Liên hiệp này mà Hồng quân Trung Hoa được Hoa Kỳ cung
cấp tiền bạc, vũ khí, đạn dược quân trang quân dụng và thuốc men. Ngoài
ra, họ cũng được tự do rời khỏi chiến khu mà quân đội Trung Hoa Quốc Gia
không có quyền truy kích hay ngăn cản.
Hồi đó, tướng Stilwell là Tư lệnh Các lực lượng Mỹ ở Trung Hoa. Ông này
chỉ muốn dồn tất cả nỗ lực để tạo chiến thắng quân sự mà hầu như không
quan tâm gì đến vấn đề chính trị, mà cũng chẳng thèm để ý đến những mâu
thuẫn sâu sắc giữa Cộng sản và Quốc gia Trung Hoa.
Là nhà quân sự thuần tuý nên tướng Stilwell dễ mắc mưu Cộng sản trên
địa hạt chính trị. Trước hết, ông nghe theo luận điệu Cộng sản, tin
tưởng họ là những người có thiện chí, sẽ triệt để phục tùng mệnh lệnh
của ông. Thứ đến, ông buộc Tổng thống Tưởng Giới Thạch phải chấp nhận
cho quân đội Quốc gia và Hồng quân được hưởng những quyền lợi ngang
nhau, được trang bị giống nhau, và nhất là không được đụng độ với Hồng
quân khi rời chiến khu ra mặt trận tác chiến chống Nhật.
Trước ngày Nhật đầu hàng Đồng minh, Hoa Kỳ lại họp hội nghị Yalta với
Nga và Anh. Trong hội nghị này, Mỹ - Nga để lộ âm mưu chia nhau quyền
lợi ở Mãn Châu và vùng Đông bắc Trung Hoa, nên các điều khoản ký kết đều
hoàn toàn bắt lợi cho Tưởng Giới Thạch. Dầu vậy, Tưởng Giới Thạch vẫn
bị bắt buộc phải chấp nhận, dủ không được mời tham dự hội nghị và không
hề ký tên vào bản thỏa ước.
Dựa vào các điều khoản ghi trong hiệp ước Yalta, Hồng quân Nga Sô rầm
rộ kéo vào Mãn Châu, đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật, rồi chiếm lấy
tất cả những cơ sở kỹ nghệ do người Nhật thiết lập tại đây từ hàng chục
năm qua.
Mãn Châu và vùng Đông bắc nước Tàu có rất nhiều tài nguyên, đặc biệt là
các hầm mỏ và kỹ nghệ, nên từ thế kỷ trước, Nhật - Nga đều dòm ngó, và
đó là một trong những nguyên nhân chính gây nên cuộc chiến tranh Nga -
Nhật cùng chiến tranh Trung - Nhật trong khoảng đầu thế kỷ 20.
Đánh tan quân đội Nhật, chiếm Mãn Châu, việc trước tiên của Hồng quân
Nga là tước đoạt tất cả tài sản, cơ sở kỹ nghệ do Nhật để lại; công khai
thão gỡ máy móc đưa về Nga, Số máy móc bị tháo gỡ này trị giá trên 800
triệu Mỹ kim, và nếu cộng chung các tài sản khác thì con số đó lên tới
hai tỷ Mỹ kim.
Dầu sao thì Trung Hoa Quốc Gia cũng là một cường quốc đứng về phe Đồng
minh, nên không thể làm ngơ trước việc Hồng quân Nga Sô ngang nhiên
chiếm đóng Mãn Châu và cướp đoạt tất cả tài sản dồi dào ở đó. Thế là
cuộc tranh chấp Nga - Hoa nổ bùng.
Để khỏi mang tiếng với thế giới bên ngoài, và nhất là Hoa Kỳ không có
cớ can thiệp vào, đòi chia phần những nguồn lợi hết sức to tát ở vùng
Đông bắc nước Tàu, Nga Sô bèn đề nghị với Trung Hoa Quốc Gia là các cơ
sở kỹ nghệ của Nhật thì thuộc phần Nga Sô, vì nó phải được coi như chiến
lợi phẩm; còn tài sản riêng của người Trung Hoa và người Mãn Châu thì
thuộc phần Chính phủ rung Hoa Quốc gia. Tuy nhiên, để tỏ tình thân
thiện, Nga bằng lòng trích phân nửa tài sản của một bộ phận chiến lợi
phẩm ấy, nhường lại cho Trung Hoa Quốc Gia, nhưng do hai bên cộng đồng
quản trị.
Trước âm mưu độc chiếm quyền lợi kinh tế ở Mãn Châu của Nga Sô, ngày 11
tháng 2 năm 1946, Chính phủ Mỹ gửi công hàm phản đối, xác định rằng tất
cả tài sản của Nhật ở Mãn Châu và vùng Đông bắc nước Tàu là của chung,
phải do Đồng minh thành lập một Ủy ban kiểm kê và phân phối.
Vì cuộc tranh chấp mà chiến sự bùng nổ ác liệt tại vùng Đông bắc nước
Tàu giữa hai phe Quốc-Cộng, và kết quả là Hồng quân Trung Cộng (được Nga
Sô giúp, đánh bại quân Trung Hoa Quốc Gia, rồi lấy đó làm bàn đạp tấn
công, thôn tính cả Lục địa.
Kết quả vụ tranh giành quyền lợi vật chất ở vùng Đông bắc Trung Hoa, cả
Mỹ lẫn Tưởng Giới Thạch chẳng được xơ múi gì, chỉ riêng Nga Sô thu về
khoảng 2 tỷ đô-la. Những từ cuộc tranh giành này, nó đẻ ra những lỗi lầm
nghiêm trọng khác trong chính sách của Mỹ tại Đông Nam Á.
Châu Á cũng như châu Phi, gồm toàn các dân tộc bán khai, nhược tiểu
chậm tiến hoặc man rợ, nên từ thế kỷ thứ 16 đã là nạn nhân, bị người da
trắng châu Âu áp bức bóc lột.
Riêng châu Á, hoàn cảnh đặc biệt hơn: ở đây đất rộng người nhiều, giàu
tài nguyên, đa số dân chúng sống về nông nghiệp, và tổ chức xã hội hết
sức phong kiến, nên nó vừa là thị trường lớn vừa là nơi nảy sinh ra lắm
tranh chấp, tạo môi trường thuận lợi cho tư bản châu Âu lợi dụng.
Quốc gia đáng chú ý nhất ở châu Á là Trung Hoa, vì Trung Hoa có một dân
số khoảng 800 triệu người và cũng ở trong tình trạng lạc hậu chậm tiến.
Theo lẽ, Trung Hoa phải là một nước gùng cường bậc nhất châu Á, nhưng
vì lãnh thổ quá rộng và tổ chức xã hội lại phong kiến cao bậc nhất,
thường xuyên chia rẽ, khiến đi tới chỗ bị nhiều nước xâu xé.
Những ngoại bang xâu xé Trung Hoa đa số gồm các nước tư bản châu Âu,
những cũng có vài quốc gia châu Á khác như Nhật Bản, Mãn Thanh.
Riêng Hoa Kỳ, vì sức phát triển và bành trướng quá nhanh, nên khi nhìn
sang châu Á 0- nơi đã sẵn những chủ nhân ông tư bản châu Âu - đã phải
thi hành một chính sách quy mô hơn, không chiếm riêng một quốc gia nào
làm thuộc địa như Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, mà chiếm toàn
diện.
Với chính sách này, trước hết người Mỹ phải tìm cách loại bỏ ảnh hưởng
các nước thực dân cũ châu Âu ra khỏi toàn bộ châu Á, và kể cả là làm cho
nội tình các dân tộc nhược tiểu châu Á xáo trộn, mâu thuẫn để thế lực
của Mỹ được cấy vào.
Kết quả trận chiến tranh thế giới II giúp Mỹ thực hiện chính sách đó;
vì sau thế chiến này, các nước thực dân cũ phải cuốn gói rời hẳn khỏi
châu Á; còn các dân tộc châu Á thì tiếp tục chia rẽ lủng cũng, và gây
nên những cuộc chiến tranh mới như chiến tranh Quốc-Cộng chẳng hạn.
Đứng về phía Hoa Kỳ mà nói thì quả thật chính sách của Mỹ đã làm lợi
cho người Mỹ, nhưng lại làm thiệt hại nặng nề cho các dân tộc nhược tiểu
châu Á, và thường xuyên gây tình trạng bất ổn chung khắp toàn thế giới.
Chính sách này của người Mỹ đã được tạp chí “Chính trị thế giới” xuất
bản tại Belgrade - thủ đô Nam Tư - nói rõ trong một bài nghiên cứu, và
được Việt Tấn Xã dịch theo bản của Claude Delmas, đăng trong bản tin
buổi chiều thứ bảy 4-12-1954.
Bài nghiên cứu này cho biết từ 25 thế kỷ qua, 500 triệu người lúc nhúc ở
mãi cực đông lục địa. Nơi đây, họ chỉ sống trên các đồng bằng và thung
lũng. Họ chen chúc nhau, thiếu đất ở, có lẽ họ ở cả trên mặt nước.
Đất cát phì nhiêu ở mạn Bắc, nhưng lại bị hạn hán và bị lụt luôn. Khí
hậu dễ chịu ở miền Nam, nhưng đất cát lại xấu. Đâu đâu cũng chật ních
người.
Sự khai khẩn điền thổ được thực hành đến tận độ khả năng, mà tất cả khả
năng ấy thu hẹp trong việc dùng sức người, ít trâu bò, không có máy
móc. Sự xuất căng khó mà đủ nhu cầu. Nếu thiếu sự điều hòa là đói, mà
đói thì cả hàng triệu người chết.
Năm triệu nông dân - năm trăm triệu nô lệ, sống trong sự chi phối ngặt
nghèo nhất của của tạo hóa, và giữa người với người của họ, có nhiều kẻ
được đặc quyền: Đó là những bọn người giàu có, những “bọn thống trị”.
Văn hóa Trung là sự tạo tác và phản ánh của bọn này.
Cuối thế kỷ 18,
Trung Hoa đứng vào bậc nhất trong lĩnh vực văn hóa và chuyên môn. (Ở
Trung Hoa có bốn giòng họ lớn là Tống, Trưởng, Khổng, Trần), đa số đất
đai, tuộng vườn đều tâp trung gần hết vào bốn giòng họ này, nên nông dân
chỉ là những tá điền bị bóc lột đến cùng cực - lời chú thích của tác
giả.
Thế kỷ 19 là thời đại khoa học, cơ giới và giai cấp tư sản, nhưng Trung
Hoa vẫn bất di bất dịch trong khi Tây Phương xuất hiện nhiều nhà bác
học và chính khách đại tài. Rồi người Âu - Mỹ tới Trung Hoa, Nhật Bản
“Âu hoá”, và nước “con trời” ấy - nước già 40 thế kỷ, cũng sinh ra nhiều
lực lượng mới. Thế kỷ 20 bắt đầu.
Năm 1911, chính thể quân chủ sụp đổ, cả hệ thống xã hội nhào theo, gần như thời vô Chính phủ, hỗn loạn và điên đảo.
Năm 1924, phe cách mạng cầm quyền, nhưng nông dân có tẹ cai trị được họ
không? Mã Khắc Tư có thay thế Khổng Tử nổi không? Năm 1927, một ngày
kia Thượng Hái đã tắm máu, phong trào cách mạng đi quá trớn, chính sách
chuyên chế tái hiện, những điều đau khổ vẫn còn, lại những “kẻ thống
trị” và những “kẻ bị trị”, rồi nạn đói, nạn lụt, rồi chiến tranh, chẳng
vua chúa nữa mà mọi sự nào có khác xưa?
Nhưng nhờ chiến tranh thế giới II, phái cách mạng mới mẻt nổi lên và
muốn dẹp hết những cảnh thống khổ ấy. Chống với Chính phủ đương thời họ
chiếm một khu vực và thành lập một chính thể xã hội mà nước Tàu chưa
biết đến bao giờ. (Đoạn này tác giả bài nghiên cứu có ý nói tới việc
Cộng sản Trung Hoa thành lập chiến khu Diên An hồi 1936 với một nền cai
trị giống như một Chính phủ biệt lập với Chính phủ Trung Hoa Quốc Gia ).
Năm 1949, phong trào biến chuyển mạnh Chính phủ Trung Hoa Quốc Gia tan
rã. Năm 1950, cả nước Tàu sống dưới chính thể Cộng sản. Đó là tất cả
biến cố lịch sử trong vòng 100 năm nay, đã thay đổi nước Tàu vào con
đường mới.
Nước Nhật muốn quay trở lại nguồn gốc văn hóa của họ, họ mong muốn nối
lại tình liên lạc bị gián đoạn để lại có sự trao đổi văn hóa, kinh tế
với nước Tàu. (Điều dự đoán này của tác giả, hiện nay đang dần dần trở
thành sự thật, vì chính sách đối ngoại của Nhật càng ngày càng cho thấy
muốn xích lại gần Trung Cộng và bỏ rơi Chính phủ Trung Hoa Quốc Gia ở
Đài Loan).
Về phần Hoa Kỳ, họ giúp Tưởng Giới Thạch không phải để cho Tưởng thắng,
mà để cứu vãn sự thất bại của Tưởng và đó là cách để Hoa Kỳ nám lấy Đài
Loan. (Điều nhận xét này cũng rất đúng, vì có duy trì Chính phủ Trung
Hoa Quốc Gia ở Đài Loan thì Hoa Kỳ mới có cớ canh giữ đảo này để duy trì
thêm cho sức mạnh của mình ở Thái Bình Dương).
Cao Ly là một nước Tàu nữa, vì xưa Cao Ly cũng phụ thuộc vào Tàu. Số
phận nước này chỉ là nối liền con đường từ Đông qua Tây, từ Nhật Bản qua
Mãn Châu. Việt Nam và phe Việt Minh thì theo đúng đường lối Tàu. Miền
Bắc châu Á là đường ngõ của nội bộ Tàu, nối liền Tàu với Nga Sô. Dân Tàu
ở hải ngoại cũng chính là đất Tàu mọc lên ở Nam Dương và ven Thái Bình
Dương. Còn như nước Anh, hồi thế kỷ 19 là một đế quốc Tây phương chịu hạ
mình trước Thiên triều và chính họ hiện nay cũng là một cường quốc Tây
phương đương nghĩ rằng một hiệp định kinh tế và sự nhìn nhận theo pháp
lý không cần sự bất đồng về chủ nghĩa, và nước Tàu của nó không phải là
kẻ thù đích đáng. (Điều nhận xét này đến nay đã hoàn toàn trở thành sẹ
thật, vì Anh đã chính thức nhìn nhận Chính phủ Trung Cộng, đặt tòa đại
sứ tại Bắc Kinh, và coi Đài Loan chỉ là một phần lãnh thổ của Trung
Quốc).
Mao Trạch Đông vừa là lãnh tụ Cộng sản Trung Hoa, vừa là lãnh tụ châu
Á. Trong hai vai trò ấy, vai trò nào sẽ quan trọng hơn? Họ Mao có thể
thoát ly Mạc Tư Khoa để lãnh đạo phong trào châu Á được không? Đó là hai
vấn đề trong thời đại này.
Nếu châu Á đang bị chủ nghĩa thực dân thống trị; nếu các vấn đề châu Á
được xem một cách công bằng nhân đạo thì đã tránh được nhiều sự đáng
tiếc xảy ra.
Dĩ nhiên thắng lợi của Mao Trạch Đông nối thêm chặt chẽ sợi dây liên
lạc giữa Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa, nhưng đến bao giờ thì mối liên lạc ấy
bị thương tổn? Câu hỏi này có dính líu tới thái độ của nước Anh, vì nước
Anh đã tự mình làm mất vai trò quan trọng ở Viễn Đông. Còn Hoa Kỳ vẫn
phải chiếm đóng Nhật Bản và thống nhất lại nước Tàu rối loạn.
Ở đây ta mới thấy cái đầu mối sự dùng dằng khó hiểu của người Mỹ. Tại
Ba Lê và Luân Đôn người ta cho rằng chính thế mới của Trung Iloa vứng
bền lắm, những Hoa Thịnh Đốn không tin như vậy. Hoa Thịnh Đốn không hy
vọng sự tan rã của Mao Trạch Đông, còn Ba Lê và Luân Đôn mong một sự
thất bại hoàn toàn của Việt Cộng,
Vì vậy, ở Tòa Bạch Ốc, người ta không biết đến sự thắng trận của Cộng
sản Trung Hoa, tưởng rằng dù nước Tàu có phải trung thành với Nga Sô về
mặt lý thuyết đi chăng nữa thì cũng vẫn phải kêu fọi đến sự viện trợ của
Tây phương và của Hoa Kỳ để phục hưng nền kinh tế và tổ chức lại nền
sản xuất thiếu thốn.
Nhưng sức cứu giúp của Mỹ không đủ nuôi hàng triệu người nghèo đói mà
đời sống trực tiếp liên quan tới cuộc cải cách điền địa. Cuộc cải cách
điền địa này chỉ thực hiện được dưới chính thể mà Hoa Thịnh Đốn không ưa
và coi như kẻ thù.
Từ lúc Mao Trạch Đông không chịu thần phục Hoa Kỳ thì Hoa Kỳ đã từ chối
không chịu nhận Chính phủ ấy về mặt ngoại giao. Hoa Kỳ chỉ dựa vào
Tưởng Giới Thạch và coi Trung Cộng là kẻ thù.
Bài khảo cứu này kết thúc bằng cách nhận định rằng nước tân Trung Hoa
cần nguyên liệu hơn là thực phẩm, và Bắc Kinh mong chờ ở liệt cường Tây
Phương các phương tiện để thực hiện chương trình kỹ nghệ hóa để tránh sự
lệ thuộc vào Nga Sô. Đầu mối của vấn đề là ở chỗ đó. Nếu tình giao hảo
giữa Bắc Kinh và các liệt cường Tây Phương chưa thực hiện được trên nền
tảng của sự cộng tác chân thành thì hòa bình chưa bảo đảm ở Viễn Đông.
Bài khảo cứu trên đây cho người ta thấy những sai lầm từ căn bản trong
chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở Trung Hoa và ở cả vùng Đông Nam Á.
Những sai lầm này càng trở thành nghiêm trọng khoảng từ 1945 đến ngày
Tổng thống Nixon mở cuộc công dn Hoa Lục tháng 2-1972.
Trước hết, Hoa Kỳ tưởng lầm “có tiền mua tiên cũng được” nên đã ve vãn
Trung Cộng bằng cách quân viện cho họ đủ thứ để họ hợp tác với Tưởng
kháng Nhật. Khi Nhật đầu hàng, những thứ vũ khí này lại quay mũi về phía
Tưởng, và dùng áp lực với chính Hoa Kỳ, buộc Hoa Kỳ phải rút hết binh
lực ra khỏi lãnh thổ Trung Hoa.
Nhật đầu hàng, nội chiến Quốc - Cộng phát khởi, Hoa Kỳ vẫn ù ù cạc cạc
và vẫn tin vào thế lực vạn năng của đồng đô-la, nên gửi phái đoàn
Marshall qua, dùng áp lực buộc Tưởng phải liên hiệp với Mao, và hứa viện
trợ cho Mao cả kinh tế lẫn quân sự.
Khi thấy Nga độc chiếm nguồn lợi vô giá ở Mãn Châu và vùng Đông bắc
nước Tàu lại ngỏ ý muốn kết thân với Tưởng Giới Thạch thì Mỹ đâm ra nghi
kỵ, bất bình, cúp hết tất cả mọi viện trợ và dồn phe Quốc gia vào thế
cô lập.
Về vai trò hòa giải hai phe Quốc - Cộng ở Trung Hoa của Đặc sứ
Marshall, nhiều nhà phê bình đã đưa ra những nhận xét xác đáng, cho rằng
sứ mạng đó làm tổn hại đến Trung Hoa Quốc Gia và làm lợi cho cho Trung
Cộng. Chính Tổng thống Tưởng Giới Thạch, trong bản lược thuật 30 năm
kinh nghiệm giữa Trung - Nga, cũng không giấu nổi những chua cay khi
viết rằng trong giai đoạn đang điều đình, Hoa Kỳ không thể không dùng
đến ảnh hưởng chính trị của mình. Song ảnh hưởng chính trị của Hoa Kỳ
đối với các vùng do Cộng sản chiếm đóng đã không có chút hiệu nghiệm
nào; trái lại, đối với phía Quốc gia, đã tạo thành một hậu quả nặng nề
vô cùng.
Theo Thống chế Tưởng Giới Thạch, điều đáng tiếc nhất là vào khoảng
tháng 4-1946, hiệp ước đình chiến Quốc - Cộng mà Đặc sứ Marshall đã ra
công vận động. bị phe Cộng sản hoàn toàn xé bỏ, ấy thế mà Chính phủ Hoa
Kỳ lại nhắm đúng lúc đó ngừng viện trợ 500 triệu đô-la cho Chính phủ
Trung Hoa Quốc Gia. Cũng vậy, đang lúc Cộng sản đánh mạnh và gây phong
trào phản Mỹ thì Hoa Thịnh Đốn lại ra lệnh đình chỉ chuyên chở súng đạn
qua giúp Trung Hoa Quốc Gia. Chính phủ Mỹ chẳng những đã không làm gì ré
việc Trung Cộng xé bỏ hiệp ước đình chiến ký kết với phe Quốc gia, mà
còn hoàn toàn làm thinh trước việc Nga Sô dùng vũ khí tịch thu của quân
đội Nhật để trang bị cho Trung Cộng, và lần lượt triệt thoái hết quân
đội Mỹ ra khỏi Bắc Kinh, Thiên Tân v.v..., ngừng hẳn viện trợ quân sự
cho Trung Hoa Quốc Gia. Như thế, hai nước Trung Hoa và Hoa Kỳ trong sáu
năm cùng chung tác chiến chống Nhật, cùng chung bảo vệ hòa bình Đông Á
đã trở thành một trang sử bi thảm và ảm đạm đáng tiếc!
Việc phe Trung Hoa Quốc Gia bị Cộng sản đánh bại phải rời bỏ lục địa
chạy ra đảo Đài Loan là do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân
thối nát tham nhũng, thất nhân tâm, không thu phục được quần chúng:
nhưng cũng phải kể đến những sai lầm nghiêm trọng của Hoa Kỳ.
Khi nhận thấy mình sai lầm trong việc không thể dùng tiền viện trợ để
mua chuộc Trung- Cộng, hầu tiến tới độc chiếm thị trường Hoa Lục, Mỹ bèn
quay sang chính sách bao vây kinh tế và ngoại giao. Một mặt không thừa
nhận Trung-Cộng, không để Trung Cộng tham gia bất cứ tổ chức quốc tế
nào, mà Hoa Kỳ là hội viên, và khnyến cao các nước trong khối Thế giới
tự do cùng hành động như vậy. Mặt khác, bằng cách này bay cách khác, Hoa
Kỳ phong tỏa không để hàng hóa sản xuất tại Trung Cộng lọt ra ngoài
nhiều, và kêu gọi các nước tư bản Tây Phương thân Mỹ cũng như các quốc
gia châu Á chịu ảnh hưởng Mỹ, đừng buôn bán, cúp nguyên liệu cho Trung
Cộng.
Vì chính sách bao vây phong tỏa ấy mà Hoa Kỳ phải bám cứng lấy Đài
Loan, không chịu trao trả Xung Thẳng cho Nhật Bản, phải tham chiến ở
Triều Tiên, phải giúp Pháp đem quân trở lại Đông Dương rồi làm cho Pháp
sa lầy tại đây, và cuối cùng phải rút lui, nhường ảnh hưởng lại cho Mỹ.
Việc Pháp đưa quân trở lại Việt Nam và đi đến chỗ thua trận Điện Biên
Phủ, hình như nằm trong một kế hoạch giai đoạn được Chính phủ Hoa Kỳ
chuẩn bị hết sức chu đáo kỹ lưỡng:
Giai đoạn thứ nhất: Khuyến khích Pháp trở lại Đông Dương mở cuộc chiến
tranh chống Việt Minh, vì Việt Minh là Cộng sản, và viện trợ cho Pháp
chiến phí, vũ khí, cơ giới, quân trang, quân dụng.
Giai đoạn thứ nhì: Thấy Pháp không làm nên trò trống gì mà tình hình
Đông Nam Á cứ càng ngày càng khẩn trương; sợ dùng dằng, Trung Cộng sẽ
nhảy vào như ở Triều Tiên, nên Mỹ đưa Bộ tham mưu qua Việt Nam nói tiếng
là giúp Pháp, nhưng kỳ tình cốt chuẩn bị cho chương trình về sau, và
khi Pháp sa lầy ở Điện Biên Phủ thì Mỹ viện đủ cớ, ngừng hẳn mọi trợ
giúp, khiến Pháp phải thua trận cuối cùng một cách nhục nhã.
Giai đoạn thứ ba: Thành lập tại Việt Nam một chính quyền chống Pháp,
thân Hoa Kỳ. Chính quyền này được gọi là chính quyền quốc gia thuần tuý.
Kế hoạch 3 giai đoạn đó, lúc đầu còn được bưng bít cẩn thận, nhưng càng
ngày càng lộ dần ra, và do nguyên nhân đi đến chỗ Pháp xích mích Hoa Kỳ
sau này.
Bằng vào lời hứa của Hoa Kỳ là sẽ tích cực viện trợ, Pháp tưởng chỉ
trong vòng vài ba năm là bình định được toàn cõi Đông Dương; nào ngờ
chiến tranh càng ngày càng leo thang, và đợi tới lúc Pháp bắt đầu sa lầy
thì Hoa Kỳ viện trợ nhot giọt có điều kiện.
Điều kiện trước tiên mà Mỹ đưa, buộc Pháp phải nghe là hợp tác với Mỹ
trong công cuộc phòng thủ chung châu Âu; và điều kiện thứ hai là phải
trao trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam, bỏ hắn ý đồ chiến tranh thực
dân.
Vấn đề phòng thủ cgung châu Âu, đối với Pháp, là một nước cờ bắt bí Mỹ,
vì Pháp biết sau chiến tranh thế giới II, châu Âu chưa gì đáng gọi là
nguy hiểm mà phải phòng thủ, đấy chẳng qua là một mưu đồ để quân đội Mỹ
hiện diện ở châu Âu, và để bảo đảm những quyền lợi Mỹ ở khu vực này. Về
sau, vì bất bình với Hoa Kỳ trong chiến tranh Đông Dương nên tướng De
Gaulle đã rút ra khỏi khối Bắc Đại Tây Dương (NATO) và không chịu gia
nhập thị trường chung châu Âu.
Còn việc trao trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam thì điều kiện của Mỹ
đưa ra là Việt Nam không ở trong Liên hiệp Pháp. Vấn đề này thật rác rối
và tế nhị vì nếu không có ý đặt lại nền thống trị ở Đông Dương thì Pháp
đưa quân qua đây chiếnn đấu làm gì?
Cuối năm 1953 và đầu năm 1954, Pháp đã nhận thấy rõ mình hoàn toàn lâm
thế kẹt: đánh Việt Minh mà không có viện trợ Mỹ thì đánh không nổi, rút
lui cũng chẳng xong. Nếu nhận viện trợ Mỹ với những điều kiện như trên
thì có nghĩa là trong tám năm gây chiến, Pháp thiệt bao nhiêu người, bao
nhiêu của, rốt cuộc vẫn công cốc, nếu không muốn nói là dọn cỗ sẵn cho
Mỹ hưởng.
Điều khốn khổ khốn nạn cho Pháp là sau khi nghe lời Bộ tham mưu Hoa Kỳ,
đưa 17 ngàn binh sĩ chiếm đóng khu lòng chảo Điện Biên Phủ, và nhè lúc
Việt Minh bao vây, tấn công như vũ bão thì dư luận Mỹ lại rùm beng lên,
nào công kích Pháp vẫn nuôi dưỡng óc thực dân ở Đông Dương, nào nói xa
nói gần rằng Hoa Kỳ có thể đưa những Sư đoàn trước đây tác chiến ở Triều
Tiên qua Việt Nam, và cũng có thể đưa cả bom nguyên từ tới để ngăn chặn
Cộng sản đang lan rộng khắp vùng Đông Nam Á, nơi có nhiều quyền lợi đặc
biệt của Hoa Kỳ. Những dư luận này xuất phát từ giới lập pháp, người
thì cho rằng Hoa Kỳ nên trực tiếp can thiệp vào chiến tranh Đông Dương,
kẻ khác lại chống đối, nếu mục đích cuộc can thiệp để cốt giúp Pháp duy
trì thuộc địa.
Những dư luận thực hư - hư thực như trên là những đòn tâm lý đánh vào
người Pháp, khiên Chính phủ Pháp vừa bối rối vừa lo ngại, nhất là khi
nghe tin Tổng thống Eisenhowe tuyên bố cho các quốc gia Đông Dương được
hưởng số tiền viện trợ mà Quốc hội Hoa Kỳ đã chấp thuận dành riêng cho
các nước Viến Đông như Phi Luật Tân, Đài Loan, Thái Lan. Như vậy có
nghĩa là Đông Dương đã bị liệt kê vào vùng mà Hoa Kỳ định gây ảnh hưởng.
Song song với dư luận trên, Pháp còn gặp những lo ngahi khác, chẳng hạn
khi thấy Hoa Kỳ ráo riết vận động ngoại giao với Trung Cộng - Nga Sô
tại hội nghị Geneve, và nhất là khi biết Hoa Kỳ đã quyết định dùng lá
bài Ngô Đình Diệm thay thế Thủ tướng Bửu Lộc.
Đối với các quốc gia khác không mấy ai biết đến ông Ngô Đình Diệm,
nhưng đối với Pháp thì ông Ngô Đình Diệm chẳng phải là người xa lạ. Hồi
1933 ông đã khảng khái từ chức Lại Bộ Thượng thư để phản đối Pháp không
giữ lời hứa trao trả quyền hành lại cho triều đình Việt Nam. Kể từ ngày
đó, ông dấn thân vào con đường cách mạng chống Pháp.
Năm 1944, ông Ngô Đình Diệm bị mật thám Pháp vây bắt, phải trốn vào Sở
hiến binh Nhật, và nhờ viên Lãnh sự Nhật Isida vận động với quân đội
Nhật, cấp riêng cho ông một chiếc máy bay vào Sài gòn.
Năm 1945, ông Ngô Đình Diệm lại bị Việt Minh bắt, đầy lên Thái Nguyên
(Bắc Việt), và không biết như thế lực nào can thiệp mà sáu tháng sau ông
được thả ra. Năm 1950, ông xuất ngoại sang La Mã và sau đó sang trú ngụ
bên Hoa Kỳ.
Cho tới này, chưa ai hiểu rõ nguyên nhân nào ông Ngô Đình Diệm được
Việt Minh phóng thích cũng như tại sao hồi 1945, cựu Hoàng Bảo Đại lại
có thể rời Hà Nội sang Côn Minh.
Đa số dư luận cho rằng việc Cựu hoàng Bảo Đại thoát khỏi Hà Nội là do
sự can thiệp của Thống chế Tưởng Giới Thạch, vì hồi này Trung Hoa Quốc
Gia có phái sang Việt Nam một đạo quân 200 ngàn người với nhiệm vụ giải
giới quân đội Nhật, Sự hiện diện của đạo quân đó đặt ra lắm phiền phức
khiến Việt Minh phải thương thảo với Trung Hoa Quốc Gia.
Dư luận đồn rằng lúc đầu Chính phủ Việt Minh định cử một phái đoàn đi
Trùng Khánh thương thuyết, nhưng phái đoàn do không được Trung Hoa Quốc
Gia chấp thuận, và Thống chế Tưởng Giới Thạch đưa điều kiện chỉ có Cựu
hoàng Bảo Đại là nhân vật đủ tư cách nhất để thương thuyết mà thôi. Nhờ
điều kiện này mà Chính phủ Việt Minh buộc lòng phải để Cựu hoàng Bảo Đại
cầm đầu phái đoàn, mặc dầu họ thừa biết chuyện ra đi của Cựu hoàng Bảo
Đại không có ngày trở lại.
Về cuộc ra đi của Cựu hoàng Bảo Đại hồi cuối năm 1945, không có một tài
liệu đích xác nào để lại, chỉ biết Cựu hoàng Bảo Đại được đội quân của
tướng Lư Hán hộ tống ra phi trường Gia Lâm, và khi Cựu hoàng lên phi cơ
rồi thì tướng Lư Hán đuổi tất cả nhân viên trong phái đoàn trở về Hà
Nội.
Về vấn đề này, cho tới nay, nhiều người vẫn nghi ngờ có bàn tay người
Mỹ nhúng vào, vì Chính phủ Trung Hoa Quốc Gia hồi bấy giờ đang cộng tác
chặt chẽ với Hoa Kỳ trong công cuộc chống Cộng. Cựu hoàng Bảo Đại có
thoát khỏi Việt Minh thì năm 1949 mới có giải pháp Bảo Đại - mà giải
pháp Bảo Đại là giai đoạn chuyển tiếp cho giải pháp quốc gia sau này.
Chuyện ông Ngô Đình Diệm cũng thế, những người chứng kiến từ đầu đều
quả quyết sở dĩ ông được Việt Minh trả tự do là nhờ sự can thiệp của Đức
Giám mục Lê Hữu Từ và nhờ áp lực của khối Công giáo.
Đành rằng khi có người thân tín của ông Ngô Đình Diệm từ Hà Nội gấp rút
chạy về Phát Diệm báo tin cho Đức cha Lê Hữu Từ biết việc ông Diệm bị
bắt, Đức cha Lê Hữu Từ với tư cách Cố vấn tối cao của Chủ tịch Hồ Chí
Minh vội lên ngay thủ đô can thiệp, những không có bằng cớ nào bảo đảm
rằng Việt Minh sợ vị Giám mục này mà thả tự do cho một người vốn từ lâu
bị họ liệt vào loại tối nguy hiểm.
Đằng khác, cũng cần nhấn mạnh rằng nếu Việt Minh sợ áp lực của khối
Công giáo thì họ đã không giết ông Ngô Đình Khôi là anh ruột ông Ngô
Đình Diệm, và cậu con trai duy nhất của của ông là Ngô Đình Huân.
Như vậy việc ông Ngô Đình Diệm được Việt Minh phóng thích và mời hợp
tác nhất định phải có sự can thiệp từ ngoài, vì theo một tài liệu chính
xác thì ngay sau khi hay tin em ruột mình là cựu Lại Bộ Thượng Thư Ngô
Đình Diệm bị Việt Minh bắt, Đức Cha Ngô Đình Thục, lúc bấy giờ là Giám
mục địa phận Vĩnh Long, đã vội vã gửi thư sang Hoa Kỳ cho Hồng Y
Spellman là Giáo chủ Công giáo Mỹ, là Tổng Tuyên uý quân lực Hoa Kỳ, và
là một nhận vật có nhiều thế lực ở Hiệp chủng quốc.
Ông Ngô Đình Diệm là lá bài đúng như ý Hoa Kỳ mong muốn, vừa có tinh
thần chống Pháp, vừa có tư tưởng quốc gia cực đoan, vừa có cảm tình với
quần chúng, vừa có cái uy của nhân vật lãnh tụ. Khi quyết định chọn ông
Ngô Đình Diệm hẳn Hoa Kỳ cũng nghĩ rằng với đạo đức và uy tín sắn có,
ông Diệm sẽ quy tụ được nhiều thành phần và nhất là ông sẽ quyết liệt
đòi pháp trao trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam đúng theo ý người Mỹ.
Với kế hoạch ba giai đoạn, giai đoạn đầu đã êm trôi chót lọt, Pháp được
Mỹ hỗ trợ, kéo quân trở lại Đông Dương gây chiến tranh thực dân.
Qua giai đoạn thứ hai, tám năm gây chiến tranh, thực dân Pháp đã nhận
được của Mỹ nhiều tiền bạc, vũ khí, cơ giới, quân trang, quân dụng. Ăn
của chùa ngọng miệng, bấy giờ Mỹ mới bắt đầu ra điều kiện nọ kia, Pháp
nhận là hèn, mà không nhận tức là rơi vào bẫy sập của Mỹ.
Mục đích của Hoa Kỳ loại bỏ hết ảnh hưởng thực dân cũ khỏi Đông Nam Á
và đưa thế lực của mình thay vào, nên trong giai đoạn thứ hai, Mỹ phải
tìm cách cho Pháp sa lầy và thất trận thật nhanh. Có như thế mới tiến
hành được giai đoạn thứ ba đưa ông Ngô Đình Diệm về nhân dân, lập
một
Chính phủ quốc gia thuần tuý chống Pháp - thâm Mỹ.
Giai đoạn thứ hai của kế hoạch hứa giúp Pháp thật nhiều tiền để Phấp
đưa qân chiếm đóng Điện Biên Phủ, nhưng khi Điện Biên Phủ bị bao vây, bị
tấn công ráo riết ngày đêm thì Hoa Kỳ trở cờ, tuyên bố không thể giúp
thêm Pháp được gì, vì như thế là tạo nguy cơ cho Thế chiến thứ ba.
Trong những ngày Điện Biên Phủ bị tấn công kịch liệt, quân kháng chiến
tràn ngập hết điểm tựa nọ đến điểm tựa kia; và đang khi hội nghị Geneve
khai nhóm (25-4-1954), các nhân vật cao cấp trong Chính phủ Pháp phải
chạy đôn đáo khắp nơi, người thì sang Hoa Thịnh Đốn cầu khẩn, van nài,
xin Mỹ giúp gấp bom đạn và nhiều phi cơ khu trục oanh tạc; kẻ thì tới
Geneve luồn lụy, vận động ngầm với các Ngoại trưởng Anh, Nga, Trung Cộng
để mong họ thuyết phục Việt Minh chấp nhận một giải pháp chấm dứt chiến
tranh. Nhưng tất cả đều vô ích, Tổng thống Eisenhower đánh điện cho Thủ
tướng Pháp ngày 26-4-1954, báo tin buồn rằng Quốc hội Hoa Kỳ không cho
phép gửi chiến cụ sang giúp Pháp ở Đông Dương nữa, vì sợ chiến tranh mở
rộng châu Á, đe dọa hòa bình thế giới; còn các Ngoại trưởng Anh, Nga,
Hoa thì ngoảnh mặt làm ngơ, coi như Pháp bị hoàn toàn cô lập trên trường
quốc tế.
Không được Mỹ giúp, Pháp chỉ còn bốn chiếc B-26 cũ kỹ cung ứng cho
chiến trường Điện Biên Phủ, nên cuối cùng bị quân kháng chiến tràn ngập
vào buổi chiều 7-5-1954, sau 56 ngày chiến đấu trong tuyệt vọng.
Sở dĩ ngày nay, nhiều luồng dư luận vẫn còn thắc mắc, cho rằng trận
Điện Biên Phủ là do sự sắp đặt của Hoa Kỳ, là bởi căn cứ vào mấy nguyên
nhân sau đây:
- Từ 1953, Pháp đã e ngại về sự thiếu thành thật của Mỹ, và rõ mục đích
của Mỹ là muốn hất cẳng Pháp ra khỏi Đông Dương, nên Pháp meu tìm một
giải pháp chấm dứt chiến tranh mà không được.
- Sau khi Điện Biên Phủ thất thủ, lẽ ra quân kháng chiến phải thừa
thắng xông lên, tràn ngập vùng Trung châu Bắc Việt và chiếm thủ đô Hà
Nội, Hải Phòng cùng nhiều nơi khác khắp Đông Dương. Nhưng trái lại tình
hình chung lúc bấy giờ vô cùng yên tĩnh chưa từng có trong chiến tranh
Việt - Pháp từ 1946.
- Lúc hội nghị Geneve chưa kết thúc Hoa Kỳ đã đưa ông Ngô Đình Diệm về
nước làm gì Thủ tướng. Việc Hoa Kỳ vận động đưa ông Ngô Đình Diệm về
Việt Nam làm Thủ tướng, thay thế hoàng thân Bửu Lộc nằm trong giai đoạn 3
của kế hoạch, vì một năm sau ông Diệm về nước cháp chính, Bảo Đại mới
bị truất phế (qua cuộc trưng cầu dân ý 23-10-1955), ông Diệm lên làm
Tổng thống, tuyên bố miền Nam theo chính thể Cộng hòa, có Hiến pháp, có
Quốc hội tức là những cơ cấu dân chủ căn bản như sự đòi hỏi của Hoa Kỳ.
Với những diễn biến tình hình thế giới nói chung và châu Á nói riêng,
từ sau chiến tranh thế giới II, người ta có thể quả quyết rằng cuộc nội
chiến Trung Hoa 1945 - 1949 đã ảnh hưởng tới chiến tranh Việt Nam, và
chiến tranh Việt Nam đang ảnh hưởng tới những biến động khắp vùng Đông
Nam Á.
Sự níu kéo dây chuyền này là do chính sách của Hoa Kỳ, muốn tạo ở Đông
Nam Á một tình trạng bất ổn thường xuyên, vì một tình trạng như vậy sẽ
giúp Hoa Kỳ có cớ duy trì lực lượng quân sự tại đây, để vừa bảo đảm an
ninh cho Hiệp Chủng Quốc, vừa giữ vững những quyền lợi sẵn có, vừa tìm
kiếm những nguồn lợi mới sau này.
Thế thì chúng ta không lạ tại sao Mỹ phải liên hệ vào chiến tranh Việt
Nam, và tại sao chiến tranh Việt Nam cứ kéo dằng dai hết năm nọ tới năm
kia từ giai đoạn này qua giai đoạn khác.